Chống rét cho trâu, bò: Cần bắt đầu từ khâu giống
Cải tạo đàn bò - đúng nhưng chưa trúng
Công tác giống đối với gia súc ăn cỏ ở nước ta chưa thực sự phát triển, với các loài nhai lại nhỏ như dê, cừu, hươu, nai,... công tác lai tạo chủ yếu vẫn nằm trong các dự án, đề tài nghiên cứu khoa học. Các giống ngoại lai hầu như chưa phổ biến trong sản xuất. Riêng đối với bò thịt mới chỉ tập trung lai tạo theo hướng Zebu hóa (Zebu là dòng bò thịt gồm nhiều giống cao sản như Sind, Sahiwal, Brahman... ). Cải tạo đàn bò là chủ trương đúng và bước đầu đã có những kết quả đáng khích lệ. Tuy nhiên, cần nhìn nhận một cách khách quan việc Zebu hóa đàn bò đã thực sự phù hợp với điều kiện sinh thái, kinh tế, xã hội của các địa phương?
Đa số các tỉnh còn thiếu cán bộ kỹ thuật về giống. Hệ thống dịch vụ thụ tinh nhân tạo gắn liền với việc ghi chép số liệu ban đầu chưa đáp ứng yêu cầu của công tác này. Hiện cả nước chưa có một hệ thống nào cấp chứng chỉ giống và quản lý giống bò, vì vậy, việc không đủ thông tin và cơ sở khoa học trong chương trình đánh giá và chọn lọc đực giống, nhất là kiểm tra đực giống qua đời sau. Do đó, việc đồng huyết trong đàn bò lai cũng khó có thể kiểm soát được nên thực tế đã có cả những con bò lai không ra lai, thậm chí có quá ít hoặc không có ưu thế lai. Trong khi hạ tầng phục vụ cho nhu cầu sinh lý, sinh thái của đàn bò lai hầu như chưa được nghiên cứu. Trên thực tế, đa số bà con nông dân vẫn nuôi con lai theo phương thức chăn thả truyền thống. Trong tình trạng thiếu thức ăn thô xanh cho cả đàn gia súc, bò lai có thể thừa hưởng được tiềm năng tăng trọng cao của bố dòng Zebu nhưng việc phát huy được hay không thì chưa chắc chắn. Vì thế, khi có sự cố thời tiết thất thường, quá lạnh hay quá nóng, chúng đều không trụ vững. “Số phận” những con trâu, bò bản địa cũng chẳng khá hơn vì từ lâu chúng cũng không được quản lý, cấp chứng chỉ giống và tận hưởng các điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng phù hợp. Vẫn phương thức nuôi chăn thả truyền thống hàng nghìn năm nay, công tác đảo đực chậm trễ, giao phối tự do trong đàn nên hiện tượng đồng huyết cũng khá phổ biến, làm suy giảm chất lượng giống. Chưa kể hiện tượng quản lý lỏng lẻo, lai tạp nên nguy cơ mai một các vốn gien quý tăng dần. Thức ăn cũng không “thuần” như trước, nhiều loại cỏ tự nhiên mới, nhiều loại phụ phẩm nông nghiệp được tận dụng làm thức ăn đều có nguồn gốc từ các loại cây nông nghiệp trồng trong điều kiện sinh thái mới, biến đổi gien, phun thuốc bảo vệ thực vật hoặc bón phân hóa học quá nhiều,... Vì thế, nếu chỉ xem xét trong khả năng chịu đựng kham khổ và tính thích nghi sinh thái địa phương của trâu, bò bản địa cũng đang kém dần.
Không phải địa phương nào cũng phù hợp
Áp lực về sản xuất thực phẩm, yêu cầu tạo việc làm cho nông dân và sự cạnh tranh với thị trường thực phẩm ngoài nước đã đưa việc phát triển chăn nuôi, trong đó trâu, bò, dê, ngựa,... trở thành định hướng trọng tâm. Công tác giống với việc đẩy nhanh tốc độ Zebu hóa đàn bò cũng là một định hướng đúng. Tuy nhiên, cần xem xét khả năng của từng địa phương mà phát triển đàn bò lai hay không. Đối với các địa phương có địa hình hiểm trở, nhiều đồi núi cao, giao thông không thuận tiện, phương thức chăn thả là chủ yếu như Hà Giang, Ninh Bình, Lào Cai,... thì việc phát triển đàn bò lai với sức vóc to lớn, khó leo trèo và chịu đựng kham khổ là việc không đem lại kết quả cao. Ngược lại, ở các địa phương có khả năng phát triển trang trại trâu, bò như Bình Thuận, Ninh Thuận,... thì công tác Zebu hóa đàn bò thịt là cần thiết. Ngoài ra, việc xem xét hạ tầng (cán bộ kỹ thuật, cơ sở giống, quản lý giống) cho công tác giống ở các tỉnh cũng rất cần thiết trước khi đầu tư công tác lai tạo các giống bò.
Những địa phương nuôi giữ tốt được các giống bản địa, cần có chính sách đầu tư để phát triển, thương hiệu hóa nhằm khai thác và bảo tồn được các vốn gien quý.
Và một công việc chung nhất là cải tạo và nâng cấp ngay hệ thống nghiên cứu và quản lý giống các cấp.
Nguồn: kinhtenongthon.com.vn (03/03/08)








