Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 15/05/2009 01:09 (GMT+7)

Chính sách sử dụng nhân tài thời Nguyễn

Tuyển dụng, bổ dụng

Dưới thời Nguyễn, các kỳ thi Đình không lấy Trạng nguyên, đặt thêm hạng Phó bảng, đổi Hương cống là Cử nhân, Sinh đồ là Tú tài (từ năm 1829). Từ năm 1841, các trường thi Hương đều phải định trước số ngạch lấy đỗ trong mỗi kỳ thi tuỳ theo tình hình học tập và số người đi thi của các địa phương. Năm 1880, triều đình lại yêu cầu các phủ - tỉnh phải định trước số học trò đủ tiêu chuẩn dự thi nhằm tránh việc số người dự thi Hương quá nhiều. Trong các kỳ thi Hội, nhà nước cho phép các quan lại, giám sinh (chưa đỗ Cử nhân), Huấn đạo, Giáo thụ dự thi. Năm 1835, Minh Mạng định lệ trong kỳ thi Hội, mặc dù các trường thi chung đề nhưng quyển văn của các thí sinh từ Quảng Bình trở vào Nam được chấm riêng với yêu cầu thấp hơn nhằm khuyến khích việc học tập còn hạn chế ở khu vực này. Các vua cũng nhiều lần tự tay ra đề (ngự đề) cho các trường thi Hương, việc phúc hạch sau các kỳ thi được các vua Nguyễn rất quan tâm, trong nhiều trường hợp chính bản thân nhà vua làm việc đó.

Trước khi được bổ dụng vào các chức vị của triều đình, các tân tiến sĩ được vinh quy bái tổ tại quê nhà. Dưới triều Nguyễn, lễ Ân tứ vinh quy được tổ chức ngay từ khoa thi đầu tiên vào thời Minh Mạng (1822) với những quy định về các việc như cấp người, vật dụng mang theo… Nhưng đến thời Tự Đức, những quy định này mới đi vào quy củ. Trong sách Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sử Lệ,Nội các triều Nguyễn có ghi: năm 1865 (Tự Đức thứ 18, khoa thi năm Ất Sửu), cấp phu thành hai hạng, người đỗ Đệ nhất giáp tiến sĩ được cấp 2 phu mang cờ biển, 2 phu khiêng võng, 1 phu khuân đồ đạc; những người đỗ Đệ nhị giáp tiến sĩ, Đệ tam giáp tiến sĩ chỉ được cấp 2 phu mang cờ biển, 2 phu khiêng võng. Có khi, triều đình còn lệnh cho các quan địa phương cử 10 đến 20 lính tháp tùng các tiến sĩ về quê quán. Trong lễ này, các tân Tiến sĩ còn được ban cho cờ và biển. Cờ được ban cho từng người, trên có đính chữ “ Sắc tứ…” cùng bậc đỗ mà mỗi tân Tiến sĩ đạt được. Chữ trên cờ của người đỗ Đệ nhất giáp tiến sĩ bằng tơ vàng; chữ trên cờ của người đỗ đệ nhị (tam) giáp tiến sĩ bằng vải. Riêng biển thì không có sự phân biệt, đó là một biển gỗ có cán, màu đỏ, trên khắc chữ Ân tứ vinh quy màu vàng. Khi về đến làng, các tiến sĩ được dân chúng nô nức chào đón, họ ở đây chừng hai tháng theo quy định rồi lại trở về kinh đô chờ triều đình bổ dụng.

Có thể cho rằng, dưới triều Nguyễn, con đường khoa cử rất được đề cao trong việc bổ dụng vào bộ máy quản lý nhà nước. Các vua nhà Nguyễn, đặc biệt là Gia Long, Minh Mạng đã tuyển dụng tất cả các quan lại của mình trong số người có học qua thi cử. Những người qua học hành thi cử tuy số lượng không nhiều nhưng đó là tầng lớp thống trị đất nước. Dễ dàng nhận ra thực tế này qua rất nhiều chi tiết lịch sử. Không chỉ từ thời Minh Mạng, sau khi có khoa thi Hội đầu tiên của triều Nguyễn, mới có việc tuyển dụng, bổ nhiệm, mà dưới thời Gia Long đã áp dụng chế độ này. Năm Gia Long thứ 13 (1814), vua chỉ dụ cho các Hương cống ở 2 trường Quảng Đức và Gia Định được bổ nhiệm vào làm việc ở các viện.

Đối với trường hợp các tân Tiến sĩ, Phó bảng triều Nguyễn sau này, việc bổ dụng có một số thay đổi qua các đời vua, nhất là về mặt phẩm ngạch. Có thể điểm lại điều này qua một số khoa thi. Khoa thi Nhâm Ngọ (1822) thời vua Minh Mạng, người đỗ Đệ nhị giáp tiến sĩcho hàm Hàn lâm viện tu soạn(tòng lục phẩm); người đỗ Đệ tam đồng tiến sĩcho hàm Hàn lâm viện biên tu(chánh thất phẩm). Khoa thi Kỷ Sửu (1829) thời Minh Mạng, người đỗ Phó bảng đều cho hàm Hàn lâm viện kiểm thảo (tòng thất phẩm). Khoa thi Quý Mão (1843) thời Thiệu Trị, người đỗ Đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ cho hàm Hàn lâm viện trước tác (chánh lục phẩm). Đến năm 1844 thời Thiệu Trị quy định về việc bổ nhiệm các nhà khoa bảng như sau: Đệ nhị giáp tiến sĩ thì bổ làm Tri phủ; Đệ tam giáp tiến sĩ thì thăng bổ Chủ sự, cho quyền làm tân Tri phủ; Phó bảng thì thăng bổ Tri huyện, cho quyền Đồng tri phủ.

Nhưng đến thời Tự Đức trở đi, việc bổ dụng các phó bảng, tiến sĩ có một số điều chỉnh về phẩm hàm. Đệ nhất giáp tiến sĩ thứ nhất (tương đương trạng nguyên) được bổ Hàn lâm viện Thị độc (chánh ngũ phẩm); Đệ nhất giáp tiến sĩ thứ hai (bảng nhãn) được bổ Hàn lâm viện Thừa chỉ (tòng ngũ phẩm); Đệ nhất giáp tiến sĩ thứ ba (thám hoa) được bổ Hàn lâm viện Trước tác (chánh lục phẩm); Đệ nhị giáp tiến sĩ được bổ Hàn lâm viện Tu soạn (tòng lục phẩm); Đệ tam giáp tiến sĩ được bổ Hàn lâm viện Biên tu (chánh thất phẩm); Phó bảng được bổ Hàn lâm viện Kiểm thảo (tòng thất phẩm). Từ những phẩm này, các tiến sĩ, phó bảng sẽ được bổ nhiệm vào những chức vụ thích ứng (như tri phủ, thự trị phủ, đồng tri phủ, tri huyện…).

Bên cạnh việc bổ dụng những người đỗ tiến sĩ, phó bảng, những đối tượng thi hỏng khác cũng được hưởng chính sách đãi ngộ trong việc bổ dụng quan chức của triều Nguyễn. Sau kì thi Hội, các thí sinh thi hỏng có thể về quê chờ khoa thi tiếp, cũng có thể xin nhập học ở trường Quốc Tử Giám. Các thí sinh về quê thì có thể được bổ vào các chức như Giáo thụ (một chức quan chuyên trách giáo dục ở một phủ), hoặc chức Huấn đạo (một chức quan chuyên trách giáo dục ở một huyện), nhưng chỉ với điều kiện, các chức này ở địa phương mà thí sinh cư trú bị khuyết. Các thí sinh thi trượt và nhập học ở trường Quốc Tử Giám nếu không có nhu cầu thi tiếp thì 3 năm theo học ở đây sẽ được sung đi Hậu bổ ở các tỉnh. Tuy nhiên việc bổ dụng này sẽ căn cứ vào thứ bậc từ kết quả thi Hội của các thí sinh mà cất nhắc theo thứ tự ưu tiên. Ngoài ra, các thí sinh là con quan (ấm sinh) đã được áp dụng chính sách ưu tiên bổ nhiệm nếu họ đỗ tiến sĩ, phó bảng, cử nhân. Trong trường hợp chỉ đỗ được tú tài và theo học ở trường Quốc Tử Giám, nếu thi tiếp các kỳ khác vẫn không đỗ, thì phải đợi đến năm 30 tuổi mới cho ra làm quan. Tất nhiên khi bổ nhiệm, danh sách của họ phải được các quan ở Quốc Tử Giám lập dâng lên, xét duyệt và họ phải trải qua kỳ sát hạch…

Cũng cần phải nói thêm rằng, ngoài những chính sách đãi ngộ đối với các tiến sĩ, nhà Nguyễn còn có lệ khắc tên tuổi, quê quán và một số thông tin về tiền sử khoa cử của các tiến sĩ đỗ chánh bảng (tức tiến sĩ) lên các tấm bia đá và đặt các Văn Miếu. Qua 39 khoa thi Hội của triều Nguyễn, trong số 558 vị khoa bảng (tính từ phó bảng trở lên) có 239 vị đỗ chánh bảng (văn ban) được khắc tên vào 32 tấm bia đá dựng tại Văn Miếu; 10 vị đỗ chánh bảng (võ ban) được khắc tên vào 2 tấm bia đá dựng tại Võ Miếu. Tuy nhiên, với những nguyên nhân lịch sử khác nhau, một số vị tiến sĩ đã bị triều đình đục tên khỏi bia đá, cũng có vị bị triều vua này đục đi nhưng qua triều vua khác được khắc tên trở lại, điển hình nhất là trường hợp của Phan Thanh Giản.

Tất cả những định lệ mang tính đặc ân cùng những chính sách đãi ngộ đối với các tiến sĩ đã minh chứng rằng, việc tổ chức các khoa thi dưới triều Nguyễn không ngoài mục đích tuyển chọn nhân tài trong các tầng lớp nhân dân, thể hiện chủ trương chiêu hiền đãi sĩ trong việc tuyển dụng bộ máy thống trị đất nước tạo nên nguồn động viên, khuyến khích kẻ sĩ tham gia khoa cử. Do đó, vào thời Nguyễn, Việt Nam xuất hiện nhiều nhà khoa bảng với những tên tuổi đã đi vào lịch sử như Phan Đình Phùng, Tống Duy Tân, Nguyễn Khuyến, Chu Mạnh Trinh, Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng… Họ đã góp phần làm rạng rỡ những trang sử đáng tự hào của dân tộc.

Chính sách giáo dục của nhà Nguyễn trong thế kỷ XIX tuy không tránh khỏi những hạn chế, song có mặt tích cực đáng được tìm hiểu, tiếp nhận có chọn lọc về nhận thức, vai trò, vị trí của giáo dục, về tổ chức học tập, thi cử, xây dựng đội ngũ dạy học. Chế độ giáo dục và khoa cử triều Nguyễn đã tạo nên một tầng lớp sĩ tử tham gia vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước; hình thành một nhân cách trí thức - những người có đủ năng lực và phẩm chất để cống hiến cho dân tộc trước những biến động và thức thách của thời cuộc.

Kết qua của chính sách giáo dục, thi cở thời nhà Nguyễn

Ngoài trường Quốc Tử Giám ở Kinh đô, một mạng lưới các trường công được đặt dưới quyền cai quản của bộ Lễ được thiết lập ở khắp các tỉnh thành trong nước. Ở các doanh, trấn (sau là tỉnh) đến cấp phủ, đều có quan của triều đình coi về việc học (Đốc học, Giáo thụ, Huấn đạo). Ngoài ra, việc mở các trường tư ở thôn xóm hương ấp rất được khuyến khích. Đây là những nguyên nhân khiến cho việc giáo dục học hành thời Nguyễn rất phát triển. Dưới triều Nguyễn có nhiều trường học danh tiếng ở các địa phương như ở Thanh Hoá có trường Nghi An của Nhữ Bá Sĩ; ở Hà Nội có trường Bái Dương của ông Nghè Ngô Thế Vinh; trường Hồ Đình của Vũ Tông Phan, bên cạnh hồ Hoàn Kiếm; trường Phương Đình của Nguyễn Văn Siêu và còn rất nhiều trường và những thày dạy học nổi tiếng khác trong cả nước.

Năm Đinh Mão (1807), vua Gia Long cho mở khoa thi Hương đầu tiên, phép thi phỏng theo phép thi cử đời Lê. Từ đó đến năm Mậu Ngọ, Khải Định thứ 3 (1918), nhà Nguyễn đã tổ chức được 47 khoa thi Hương lấy đỗ được 5.208 người. Cụ thể như sau:

- Đời Gia Long 3 kỳ lấy đỗ 255 người;

- Minh Mạng 8 kỳ lấy đỗ 731 người;

- Thiệu Trị 5 kỳ lấy đỗ 600 người;

- Tực Đức 17 kỳ lấy đỗ 1851 người;

- Kiến Phúc 1 kỳ lấy đỗ 139 người;

- Đồng Khánh 3 kỳ lấy đỗ 238 người;

- Thành Thái 6 kỳ lấy đỗ 959 người;

- Duy Tân 3 kỳ lấy đỗ 376 người;

- Khải Định 1 kỳ lấy đỗ 59 người;

Nhà Nguyễn lập kinh đô ở Huế. Tất cả các kỳ thi Hội đều được tổ chức ở kinh thành. Thi Đình quy định thi tại sân rồng trong cung điện nhà vua.

Định kỳ và thể thức thi vẫn theo quy định của nhà Lê, nhưng theo luật “tứ bất” (bốn không) do Gia Long đặt ra là: Không lập Hoàng hậu; không đặt Tể tướng; không lấy Trạng nguyên và không phong tước cho người ngoài Hoàng tộc.Như vậy người thi đỗ đầu kỳ thi không được mang danh hiệu Trạng nguyên mà chỉ có danh hiệu từ Bảng nhãn trở xuống. Nhưng mãi tới năm Nhâm Ngọ (1822), tức là sau 20 năm vương triều Nguyễn được thành lập, vua Minh Mạng mới tổ chức khoa thi Hội đầu tiên dưới triều Nguyễn.

Từ năm Nhâm Ngọ (1822), vua Minh Mạng tổ chức khoa thi Hội đầu tiên đến năm Kỷ Mùi, Khải Định thứ 4 (1919), nhà Nguyễn tổ chức được 39 khoa thi Hội, lấy được 558 người. Cụ thể như sau:

- Đời Minh Mạng có 6 khoa thi (lấy đỗ 75 người);

- Đời Thiệu Trị có 5 khoa thi (lấy đỗ 80 người);

- Đời Tự Đức có 16 khoa thi (lấy đỗ 206 người);

- Đời Kiến Phúc có 1 khoa thi (lấy đỗ 7 người);

- Đời Thành Thái có 6 khoa thi (lấy đỗ 121 người);

- Đời Duy Tân có 3 khoa thi (lấy đỗ 33 người);

- Đời Khải Định có 2 khoa thi (lấy đỗ 36 người);

Trong số 558 người đỗ Đại khoa có 292 Tiến sĩ (Đệ nhất giáp 11 người; 2 Bảng nhãn, 9 Thám hoa; Đệ nhị giáp – Hoàng giáp 54 người; Đệ tam giáp (đồng tiến sĩ xuất thân) 227 người), 266 Phó bảng. Rất nhiều người trong số họ đã trở thành trụ cột trong triều đình, danh nhân văn hoá nổi tiếng… và thực sự đã có những đóng góp lớn lao cho sự phát triển của đất nước trong thời kỳ này.

Các vua triều Nguyễn từ Gia Long đến Tự Đức … đều rất quan tâm đến đào tạo tuyển chọn, nhân tài. Kể từ thời Minh Mệnh (1820), việc đào tạo, tuyển chọn nhân tài ngày càng được chấn chỉnh, mở mang và đi vào nề nếp, quy củ. Tất cả đều nhằm mục đích tuyển chọn thêm người tài bổ sung cho bộ máy quản lý đất nước. Trong đường lối chính sách đó, hình thức khoa cử là phương tiện chính yếu để tuyển chọn và sử dụng. Theo số liệu trong Đại Nam liệt truyệnchỉ tính từ thời Gia Long đến Tự Đức số người tài được tuyển chọn qua khoa cử là 247 người, còn không qua thi cử là 99 người. Trong đó tuyển dụng không qua thi cử thời Gia Long là đông nhất 38 người. Còn tuyển dụng qua khoa cử thời Minh Mệnh là 95 người, thời Tự Đức là 83 người.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

GS.VS. Châu Văn Minh được trao tặng Huân chương Độc lập
Chiều ngày 3/4, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm đã chủ trì buổi Lễ trao tặng các danh hiệu cao quý của Đảng và Nhà nước. GS.VS. Châu Văn Minh, Ủy viên Trung ương Đảng khóa XIII, Bí thư Đảng ủy VUSTA đã được trao tặng Huân chương Độc lập hạng Ba. Đây là phần thưởng cao quý ghi nhận những đóng góp đặc biệt xuất sắc của ông cho sự nghiệp khoa học và xây dựng đất nước.
Hội Tự động hóa Việt Nam tham dự CMES Shanghai 2026, tăng cường kết nối giao thương quốc tế
Từ ngày 23 đến 26/3/2026, tại Thượng Hải, Trung Quốc, Triển lãm Quốc tế Máy công cụ và Công nghệ chế tạo CMES Shanghai 2026 đã diễn ra sôi động, thu hút sự tham gia của đông đảo doanh nghiệp và chuyên gia trong lĩnh vực cơ khí chế tạo, tự động hóa và sản xuất thông minh trên toàn cầu.
Công bố Quyết định của Bộ Chính trị về công tác tổ chức và cán bộ
Sáng 1/4, tại Hà Nội, Bộ Chính trị tổ chức hội nghị công bố Quyết định của Bộ Chính trị về công tác tổ chức và cán bộ đối với 5 cơ quan. Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính dự hội nghị. Đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư trao các quyết định và phát biểu ý kiến chỉ đạo.
Tổng Bí thư Tô Lâm trao Huân chương Quân công hạng nhất và Huy hiệu Đảng tặng các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo
Chiều 30/3, tại trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã dự lễ trao Huân chương Quân công hạng nhất và Huy hiệu Đảng tặng Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ.
Đổi mới công tác tư vấn, phản biện: “Chìa khóa” để phát huy vai trò của đội ngũ trí thức
Giới chuyên môn nhận định, chuyển đổi số và AI sẽ tạo bước đột phá cho công tác tư vấn, phản biện nhờ sự giao thoa giữa trí tuệ chuyên gia, sức mạnh dữ liệu cùng các công cụ phân tích hiện đại. Tuy nhiên, thực tế hoạt động tư vấn phản biện hiện chưa theo kịp yêu cầu, đòi hỏi cấp thiết phải làm chủ các nền tảng số và phương pháp phân tích hiện đại để thu hẹp khoảng cách giữa tiềm năng và thực tiễn.
Hội thảo khoa học quốc gia “Phát triển kinh tế tư nhân ở Hải Phòng trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước”
Ngày 27/3/2026, tại Trường Đại học Hải Phòng đã diễn ra Hội thảo khoa học quốc gia với chủ đề: “Phát triển kinh tế tư nhân ở Hải Phòng trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước”. Hội thảo do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố, Trường Đại học Hải Phòng, Đại học Phenikaa, Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng đồng tổ chức.
Phú Thọ: Hội nghị tuyên truyền pháp luật và kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp
Ngày 28/3/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ phối hợp với Hội Luật gia tỉnh tổ chức Hội nghị tuyên truyền pháp luật và kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031.
Đắk Lắk: Ths. Đoàn Văn Thanh và Ths. Lê Văn Dần được bầu giữ chức Phó Chủ tịch Liên hiệp Hội
Chiều ngày 26/3/ 2026, tại Hội trường cơ quan, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh (Liên hiệp Hội) Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) với ba nội dung: Thực hiện quy trình công tác cán bộ; Sơ kết công tác quý I, triển khai nhiệm vụ công tác quý II và Trao quyết định công nhận tổ chức thành viên mới.
Gia Lai: Đánh giá kết quả bước đầu thực hiện Dự án Sa nhân tím
Ngày 25/3/2026, xã Bình Phú, tỉnh Gia Lai, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Gia Lai phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức Hội nghị sơ kết giữa kỳ Dự án “Hỗ trợ phát triển vùng nguyên liệu cây dược liệu sa nhân dưới tán rừng cho cộng đồng dân tộc thiểu số góp phần cải thiện sinh kế người dân, bảo tồn hệ sinh thái rừng, thích ứng biến đổi khí hậu tại xã Bình Phú, tỉnh Gia Lai”.
Hội Điều dưỡng Hải Phòng nâng cao chất lượng điều dưỡng, hướng tới sự hài lòng người bệnh
Ngày 25/3/2026, tại Bệnh viện Kiến An, Hội Điều dưỡng thành phố Hải Phòng tổ chức Đại hội Đại biểu lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031. Đại hội đánh dấu bước chuyển quan trọng sau khi hợp nhất Hội Điều dưỡng Hải Phòng và Hội Điều dưỡng Hải Dương trước đây, tạo nền tảng thống nhất, đồng bộ trong phát triển công tác điều dưỡng trên địa bàn thành phố.