Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ bảy, 14/06/2008 00:49 (GMT+7)

Chính sách mới đối với tam nông là thực hiện công bằng xã hội : Mảng tối trong "bức tranh" nông nghiệp - nông thôn

Nông dân không mặn mà với đồng ruộng vốn ngàn đời gắn bó, thay vào đó, họ đổ về các thành phố lớn kiếm việc làm; tỷ lệ thất nghiệp ngày càng cao, nhất là ở những nơi bị thu hồi đất nông nghiệp; giá trị sản xuất không bù lại được với sự "phi mã" của giá vật tư nông nghiệp... Tất cả những yếu tố đó đã khiến khoảng cách "quê - phố" ngày càng doãng ra, cho thấy đã đến lúc phải thay đổi hàng loạt vấn đề trong phát triển nông nghiệp - nông thôn và chính sách đối với nông dân.

Thu ít, đóng góp nhiều

Theo thống kê của Cục Hợp tác xã và PTNT (Bộ Nông nghiệp và PTNT), tại các tỉnh Đồng bằng sông Hồng, trung bình mỗi nông hộ được giao 5 - 6 sào ruộng (1 sào Bắc Bộ = 360m2). Nếu chỉ cấy hai vụ lúa với giá trị sản xuất 4, 5 triệu đồng, trừ chi phí, mỗi hộ còn thực lãi 2, 2 triệu đồng/năm, tương đương 183.000 đồng/tháng và 6.100 đồng/ngày. Trừ tiếp các khoản đóng góp do xã và các tổ chức thu (bình quân toàn vùng là 150.000 đồng/hộ), mỗi hộ chỉ còn khoảng hơn 2 triệu đồng trang trải cho cuộc sống, tính ra một hộ thuần nông chỉ được phép tiêu trong phạm vi 5.500 đồng/ngày.

Thu nhập quá thấp nhưng nông dân lại phải chịu nhiều khoản phí. Theo báo cáo của 46 tỉnh, thành phố và kết quả điều tra của Cục Hợp tác xã và PTNT, số lượng, mức thu các khoản đóng góp của nông hộ rất cao. Bình quân mỗi hộ phải chịu 30 - 40 khoản đóng góp với mức 250.000 đến 800.000 đồng/năm. Nhiều nơi, nông hộ chịu trên 20 khoản đóng góp do xã và các tổ chức thu, mức thu bình quân 300.000 - 500.000 đồng/hộ/năm và khoảng 10 khoản phí dịch vụ do hợp tác xã thu, với mức 200.000 - 300.000 đồng/hộ/năm. Cụ thể, tại Đồng bằng sông Hồng, có 26 khoản đóng góp chính thức, mức thu 350.000 - 500.000 đồng/hộ/năm; khu vực trung du miền núi phía Bắc có 28 khoản đóng góp với mức 250.000 - 450.000 đồng/hộ/năm; khu vực duyên hải Nam Trung Bộ 28 khoản và Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) 25 khoản, đạt kỷ lục về mức đóng góp, 300.000 - 700.000 đồng/hộ/năm. Trong các khoản đóng góp, có 2 khoản nông dân phải đóng nặng nhất là xây dựng giao thông nông thôn và trường học, bình quân 672.000 - 872.000 đồng/hộ/năm. Trong 10 khoản thu phí dịch vụ của hợp tác xã (thuỷ lợi phí, dịch vụ bảo vệ thực vật, phí bảo vệ đồng điền,…) thì thuỷ lợi phí là “nặng đô” nhất, chiếm 70% tổng chi phí dịch vụ mà xã viên phải đóng góp mỗi năm (khoảng 380.000 đồng). Tại huyện Hàm Thuận Nam (Bình Thuận), từ vụ đông xuân 2007 trở về trước, mức thu thuỷ lợi phí được quy ra lúa là 140 kg/ha/vụ, nhân với giá lúa quy định 2.200 đồng/kg, tính ra phải nộp 260.000 đồng/ha/vụ; bước sang vụ hè thu năm 2007, thuỷ lợi phí đã tăng lên 545.000 đồng/ha. Riêng thanh long được đưa vào danh mục cây đặc sản nên mức thu cao hơn, 1, triệu đồng cho mùa khô 6 tháng.

Ở ĐBSCL, ngoài việc phải gánh các loại phí, tình trạng nông dân mua chịu vật tư nông nghiệp và "còng lưng" trả lãi suất cắt cổ với mức 8%/tháng cho các đại lý cũng đang diễn ra khá phổ biến. Để tránh tình trạng “lãi mẹ đẻ lãi con”, chưa vào vụ gặt, nông dân đã bán lúa non để trả nợ, vì vậy nghèo vẫn hoàn nghèo. Lúa ngoài đồng chưa trổ, xã đã gửi “trát” xuống từng nhà, liệt kê các khoản đóng góp, lệ phí, không quên “chua” thêm một dòng: “Phải đóng trong vòng 5 ngày sau khi thu hoạch”. Ai đóng chậm, “tổ công tác” của ấp, xã đến “gõ cửa” từng nhà. Và luật bất thành văn được chính quyền nhiều nơi áp dụng: Nếu không thanh toán xong các khoản phí thì không ký bất cứ giấy tờ nào dân cần như hồ sơ xin cho con đi học, thi đại học, học nghề, công chứng, thậm chí giữ cả sổ đỏ, không cấp giấy khai sinh...

Tình trạng loạn thu phí và lệ phí ở nông thôn trước hết là “con đẻ” của chính quyền địa phương. Không ít địa phương lấy việc thu phí, lệ phí làm nguồn để duy trì hoạt động của chính quyền cơ sở. Việc chi tiêu không công khai, minh bạch gây nên nỗi bức xúc trong dân. Trình độ quản lý hay nói đúng hơn là hiểu biết về pháp luật của cán bộ xã, phường còn hạn chế dẫn đến việc người dân phải gánh thêm nhiều khoản đóng góp nặng nề.

Khi ruộng không thể nuôi người

Đóng góp nhiều, chi phí đầu vào tăng..., nhiều nông dân đã bỏ ruộng...

“Ăn gì mà cấy? Giá cả cứ lên vù vù trong khi giá lúa tăng không đáng kể”, đó là câu trả lời của rất nhiều bà con xã Đông Phương (Đông Hưng - Thái Bình) khi được hỏi vì sao bỏ ruộng. Xã có khoảng 4.400 lao động thì có tới trên 2.000 người đi làm ăn xa, số tiền mang về cao hơn nhiều so với làm ruộng nên người dân không còn thiết tha với cây lúa. Hơn 30 mẫu ruộng thuộc quỹ đất 5% đã bị bỏ hoang. Tình trạng này không chỉ diễn ra tại Đông Phương mà còn phổ biến ở nhiều địa phương trên quê hương “5 tấn”. Một con số được đại biểu Nguyễn Hạnh Phúc (Thái Bình) đưa ra trên diễn đàn Quốc hội khiến nhiều người giật mình, hiện có khoảng 250ha đất công ích 5% đã bị nông dân trả lại xã với lý do làm thu không đủ bù chi.

Khảo sát ở một số tỉnh Bắc Bộ như Nam Định, Ninh Bình, đa số nông dân đang có nhu cầu bán ruộng. Nguyên nhân là do giá phân bón, giống cây trồng, các loại dịch vụ tăng quá cao. Các khoản đóng góp đã vượt sức chịu đựng của dân khi đảm nhận ruộng khoán nhà nước giao. Họ sẵn sàng chấp nhận cuộc sống ly hương để kiếm 20.000 - 30.000 đồng/ngày. Nhiều người dân cho biết, nếu tính hết mọi chi phí sản xuất thì bình quân một nông dân chỉ thu được 1.000 đồng/ngày. Điều đáng nói là hiện tượng nông dân trả ruộng, thậm chí bán ruộng ngày càng nhiều nhưng đến nay hầu hết các ngành chức năng của các tỉnh vẫn chưa có giải pháp khắc phục. Ngay như ở huyện Kiến Xương (Thái Bình), nơi có phong trào nông dân trả ruộng nhiều nhất nhưng một lãnh đạo huyện vẫn khẳng định: Huyện không có hiện tượng nông dân trả ruộng, 13.700ha đất canh tác không có chỗ nào bị bỏ hoang.

Tại Quảng Ngãi, một hiện tượng chưa từng xảy ra đã xuất hiện đồng loạt tại một số xã vùng Đông thuộc huyện Bình Sơn: Nông dân bỏ ruộng, lấp đồng. Tại xã Bình Trị, số diện tích gieo cấy vụ hè thu năm 2007 bị bỏ hoang lên tới 15ha, đó toàn là những chân ruộng tốt, gần đường, không nằm trong quy hoạch hay bị thu hồi. Ông Phạm Ngọc Thọ, Chủ tịch UBND xã cho biết: “Nông dân bỏ ruộng đi làm thuê”.

Bình Trị là “cái nôi” của Khu kinh tế Dung Quất. Trên địa bàn hiện có 15 dự án đang triển khai xây dựng nên cần nhiều lao động phổ thông với mức lương khá hậu hĩnh. Giá nhân công lao động tăng khiến nhiều nông dân Bình Trị bỏ rơi ruộng đồng, đầu quân cho các công trường. Không chỉ bỏ ruộng, nhiều hộ còn lấp ruộng để dựng lều quán kinh doanh. Mỗi ngày tại Bình Trị tập trung khoảng 5.200 công nhân, cán bộ, chuyên gia, vì vậy, nhu cầu ăn uống, giải trí, ở trọ cho lực lượng này là vô cùng lớn. Đã có 130 hộ nông dân Bình Trị chuyển qua kinh doanh nhà trọ; vài trăm gia đình khác mở quán bán thức ăn, giải khát, internet,... tất cả đều cho thu nhập cao hơn làm ruộng nên họ chẳng ngại ngần lấp đồng lấy mặt bằng mở rộng kinh doanh dù biết việc làm đó là vi phạm Luật Đất đai. Ông Thọ cảnh báo, các công trình dự án ở Bình Trị gần đến giai đoạn hoàn thiện. Nhu cầu lao động phổ thông cho dự án rồi sẽ hết, lao động tại chỗ không còn việc làm, các hoạt động dịch vụ tê liệt dần, lúc đó có muốn quay lại với đồng ruộng cũng khó vì hệ thống kênh mương đã bị phá huỷ, xuống cấp.

Tất cả những nghịch lý trên đang khiến khoảng cách giàu - nghèo giữa thành thị và nông thôn ngày càng doãng ra. Bây giờ, no bụng không phải là vấn đề lớn của nông dân nhưng lại nảy sinh nhiều bất cập khác, bức xúc, nóng bỏng hơn như ít khả năng tiếp cận dịch vụ y tế, nợ nần, mất đất, con bỏ học, không có việc làm... Thực tế, sau 20 năm đổi mới, chuyển đổi sản xuất nông nghiệp vẫn diễn ra rất chậm. Năng suất lao động toàn xã hội tăng lên khá cao nhưng ở nông thôn, nơi có 57% lao động sinh sống thì chững lại. Năm 2005, năng suất lao động nông nghiệp chỉ tăng 3,7%, năm 2006, tụt xuống còn 2,64%. Trong khi chênh lệch giàu - nghèo ở nông thôn là từ 12 đến 25 lần. Hệ quả là sản xuất nông nghiệp không bền vững cả về môi trường và xã hội, dịch bệnh tràn lan, tài nguyên bị khai thác đến mức cạn kiệt, người dân khó có thể được hưởng lợi từ quá trình đổi mới và hội nhập.

Chính sách mới đối với tam nông là thực hiện công bằng xã hội : Những nghịch lý chưa được tháo gỡ

Đóng góp nhiều, chi phí đầu vào tăng..., nhiều nông dân đã bỏ ruộng...


Mức đầu tư quá thấp, sự phát triển ì ạch của doanh nghiệp nông nghiệp và phương thức canh tác lạc hậu, manh mún, nhỏ lẻ là những nguyên nhân dẫn đến cuộc sống của người dân ngày càng khó khăn và khu vực nông nghiệp - nông thôn tiếp tục phải đối mặt với nhiều nguy cơ, thách thức.

Thua thiệt mọi bề

Mặc dù có gần 70% dân số, đóng góp trên 20% GDP nhưng khu vực nông thôn vẫn tồn tại nhiều vấn đề nổi cộm như hạ tầng nghèo nàn; quy hoạch và quản lý quy hoạch còn bất cập; môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng. Công cuộc xoá đói giảm nghèo dù được đánh giá đạt kết quả tốt (năm 2001, tỷ lệ hộ nghèo là 14,5%, năm 2006 giảm xuống còn 8,3% theo tiêu chí cũ, tiêu chí mới là 18% và năm 2007 là 14,7%; thu nhập bình quân tăng từ 11 triệu đồng/hộ năm 2000 lên 16 triệu đồng/hộ năm 2006) nhưng tỷ lệ hộ nghèo vẫn cao, khoảng cách về thu nhập giữa thành thị và nông thôn ngày càng lớn. Lao động thiếu việc làm, tỷ lệ lao động qua đào tạo thấp, tình trạng thất nghiệp và tệ nạn xã hội có xu hướng gia tăng đang là mối đe doạ lớn ở nông thôn.

Nguyên nhân chính của những tồn tại trên là do nền kinh tế có điểm xuất phát thấp, sản xuất nông nghiệp về cơ bản là nhỏ lẻ, thiên tai, dịch bệnh ngày càng nhiều và có xu hướng gay gắt hơn. Đó là chưa kể : đầu tư cho phát triển nông thôn thiếu đồng bộ; nguồn lực bị chia sẻ, phân tán nên hiệu quả không cao. Trong 20 năm đổi mới, nông nghiệp Việt Nam đã đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh nhất thế giới nhưng nghịch lý là tốc độ tăng GDP trong nông nghiệp có dấu hiệu chững lại. Năm 2005, GDP trong nông nghiệp tăng 4% nhưng đến năm 2006 chỉ còn 2,84%. Theo Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược nông nghiệp- nông thôn, TS.Đặng Kim Sơn, nguyên nhân sâu xa của tình trạng này là do đầu tư cho nông nghiệp quá thấp và quản lý nông nghiệp còn bất cập. Giai đoạn 2001 - 2005, tổng vốn đầu tư cho nông nghiệp chỉ đạt 110.000 tỷ đồng, bằng 10% tổng vốn đầu tư của nền kinh tế. Năm 2006, đầu tư tư nhân vào nông nghiệp chỉ đạt 7%, đầu tư nước ngoài 3%, giảm 1% so với năm 2005. Tỷ trọng đầu tư của ngân sách Nhà nước cho ngành nông nghiệp cũng giảm dần theo từng năm. Cụ thể, chi tiêu công cho nông nghiệp chỉ đạt 5 - 6% ngân sách, tương đương 1 - 1,5% GDP, thấp hơn so với các nước trong khu vực. Điều này góp phần dẫn tới tình trạng các hộ ở nông thôn phải đóng góp phí và lệ phí ngập đầu, làm giảm lợi nhuận từ sản xuất. Đầu tư thấp cũng khiến kết cấu hạ tầng nông thôn rất yếu kém.

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT Diệp Kỉnh Tần cho rằng, khó khăn lớn nhất và cơ bản nhất của nông nghiệp nước ta là sản xuất phân tán, quy mô nhỏ (bình quân mỗi hộ chỉ có 0,6 - 0,7ha đất canh tác) lại chia thành nhiều mảnh, khó tích tụ ruộng đất để sản xuất tập trung. Chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp, cơ cấu kinh tế nông thôn vừa chậm, vừa không đồng đều nên đến nay vẫn có tới 77% số hộ làm nông nghiệp thuần tuý, chỉ giảm 1,6% so với 10 năm trước.

Lâu nay chúng ta nói nhiều đến công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn nhưng vẫn chưa làm được bao nhiêu. Ngay trong phiên chất vấn Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT Cao Đức Phát tại kỳ họp thứ hai, Quốc hội khoá XII, đại biểu Nguyễn Ngọc Đào (Hà Nội) băn khoăn về hình ảnh truyền đời của người nông dân Việt Nam là "con trâu đi trước, cái cày theo sau" vẫn chưa xoá được hay trên vùng cao núi đá Hà Giang, nông dân vẫn phải bê đất bỏ vào từng hốc đá để trồng ngô. Ngoài ra, công cuộc công nghiệp hoá cũng khiến nhiều người dân mất đất sản xuất. Theo thống kê, cả nước có 4,3 triệu hecta đất trồng lúa nhưng mấy năm gần đây đã giảm chỉ còn xấp xỉ 4,1 triệu hecta, bình quân mỗi năm mất gần 1%. Thái Bình là tỉnh thuần nông, đất chật người đông nhưng cũng có tới 7 khu công nghiệp và 13 cụm công nghiệp, "ngốn" gần 1.250ha “bờ xôi ruộng mật”. Điều đáng nói là nhiều diện tích đã quy hoạch cho khu công nghiệp nhưng nhiều năm trời vẫn bỏ hoang. Đến nay, số khu - cụm công nghiệp ở Thái Bình lấp đầy khoảng 50% diện tích, trong khi đó 45% nông dân phải bỏ nhà đi làm thuê.

Sự ì ạch của doanh nghiệp

Được coi là một trong những động lực chính thúc đẩy nông nghiệp - nông thôn phát triển nhưng tốc độ tăng trưởng của các doanh nghiệp trong khu vực này vẫn thấp nhất cả nước. Đây là nghịch lý trong phát triển nông nghiệp - nông thôn nước ta.

Cuộc hội thảo “Nâng cao năng lực doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực bảo quản, chế biến nông sản giữa các thành viên APEC” đã đưa ra những con số khiến nhiều người phải giật mình. Trên 90% số doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam hiện đang hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn với quy mô lao động bình quân 10 - 200 lao động/doanh nghiệp; khối doanh nghiệp nông nghiệp, nông thôn có quy mô huy động vốn đạt gần 30 tỷ USD, sử dụng gần 3 triệu lao động, tạo 49% việc làm phi nông nghiệp ở nông thôn, tương đương khoảng 1/4 tổng lao động cả nước nhưng tốc độ tăng trưởng chỉ đạt khoảng 2%/năm so với mức 20 - 25%/năm của bình quân chung cả nước.

Trên thực tế, số doanh nghiệp tính trên đầu người ở khu vực nông thôn còn thấp, theo tính toán, cứ 57.000 người sống ở khu vực nông thôn mới có một doanh nghiệp nông nghiệp, trong khi tỷ lệ này trên cả nước là 700 người/doanh nghiệp. Hạn chế lớn nhất ảnh hưởng đến việc phát triển các doanh nghiệp nông nghiệp nhỏ và vừa là thiếu cơ hội đầu tư, kinh doanh; môi trường đầu tư, chính sách ưu đãi hầu như không có hoặc nếu có cũng khó triển khai áp dụng. TS.Đặng Kim Sơn đánh giá, hệ thống doanh nghiệp nông nghiệp, nông thôn phát triển tương đối chậm, vốn đầu tư ít. Nguyên nhân là do hạ tầng ở nông thôn kém, điểm xuất phát thấp, các dịch vụ đều khó khăn khiến doanh nghiệp ngại đầu tư.

Phần lớn các doanh nghiệp nông nghiệp, nông thôn đều hoạt động rất "cò con". Hơn phân nửa số doanh nghiệp có vốn dưới 10 tỷ đồng, con số quá nhỏ bé so với doanh nghiệp các nước trên thế giới và so với nhu cầu thực tế. Thêm nữa, các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nông thôn lại sử dụng những công nghệ, thiết bị lạc hậu. Tỷ lệ đổi mới trang thiết bị chỉ đạt 5 - 7%/năm so với mức chung của thế giới là 20%. Ông Trần Thế Xường, Phó trưởng ban Đổi mới và quản lý doanh nghiệp (Bộ Nông nghiệp và PTNT) nhận định, hiện nay nhà xưởng chế biến và kho tàng cất giữ nông sản của các doanh nghiệp vừa và nhỏ chế biến nông, lâm sản còn sơ sài, tạm bợ, số nhà xưởng kiên cố chỉ chiếm 30%. Hầu hết các doanh nghiệp vẫn áp dụng công nghệ cũ, tỷ lệ cơ giới hoá chỉ chiếm trên 10%, số còn lại là sử dụng trang thiết bị thủ công, bán cơ giới, hầu như không có doanh nghiệp nào áp dụng các trang thiết bị tự động hoá.

Về "cú hích" cho doanh nghiệp nông thôn phát triển, TS. Đặng Kim Sơn cho rằng, vai trò của chính quyền địa phương trong việc hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nông nghiệp, nông thôn là rất quan trọng. Bởi đây chính là nơi triển khai tất cả những chính sách về đào tạo nguồn nhân lực, ưu đãi về đất đai, thuế cũng như hỗ trợ trực tiếp cho doanh nghiệp. Sự phát triển của các doanh nghiệp sẽ tạo nhiều việc làm cho lao động nông nghiệp và phi nông nghiệp, giúp người dân "ly nông bất ly hương". Ngay tại nông thôn, các nhà máy sơ chế có thể tạo cơ hội cho nông dân có việc làm. “Chính vì vậy, doanh nghiệp nông nghiệp, nông thôn đóng một vai trò hết sức quan trọng. Bởi hiện nay, phần lớn lao động của nước ta vẫn nằm ở nông nghiệp. Phát triển doanh nghiệp trong lĩnh vực này sẽ giải quyết được việc làm và tăng thu nhập cho người dân” - TS. Sơn nhấn mạnh.

Với tất cả những thực trạng, nguy cơ mà khu vực nông nghiệp, nông thôn đang phải đối mặt, đã đến lúc chúng ta phải quan tâm đặc biệt đến vấn đề tam nông (nông nghiệp - nông thôn - nông dân) trên tất cả các mặt đào tạo, nâng cao nguồn nhân lực, xây dựng nông thôn mới, giảm dần sự cách biệt quá lớn, sự bất bình đẳng hiện nay giữa nông thôn và thành thị. Duy trì một mức sống quá thấp đối với gần 70% dân số là làm triệt tiêu dần động lực của sự phát triển. Đã đến lúc phải chấm dứt tình trạng 1 hạt thóc gánh 40 khoản phí. Theo đó, 4 vấn đề lớn đã được các nhà hoạch định chính sách đưa ra cho vấn đề tam nông, đó là: giảm bớt các khoản đóng góp cho người dân, bù ngân sách cho xã nghèo, hỗ trợ sản xuất nông nghiệp thông qua miễn giảm phí sản xuất, cải thiện việc bồi hoàn đất nông nghiệp chuyển sang đất công nghiệp và đô thị.Thực tế triển khai tại một số địa phương cho thấy, nếu làm được những điều này, bức tranh nông nghiệp, nông thôn sẽ trở nên sáng sủa.

Chính sách mới đối với tam nông là thực hiện công bằng xã hội : Tam nông, nhìn từ Trung Quốc


Khi chuẩn bị gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), các cơ quan chức năng của Trung Quốc dự báo, lao động trong ngành nông nghiệp sẽ giảm khoảng 9, 6 triệu người. Không chỉ có thế, cuộc sống của nông dân càng khó khăn hơn do trình độ sản xuất lạc hậu, hạ tầng khu vực nông thôn chưa hoàn thiện. Vậy mà như phép thần, sau khi thực hiện chính sách tam nông nhằm xây dựng một xã hội hài hoà, bộ mặt nông thôn Trung Quốc đã có sự thay đổi vượt bậc.


"Cho nhiều, thu ít"

Chính sách tam nông của Trung Quốc đang bước vào giai đoạn phát triển nhất trong lịch sử. Sản xuất lương thực, thu nhập của nông dân tăng hằng năm. Ngân sách trung ương dành hỗ trợ cho các dự án tam nông không ngừng tăng, năm 2007 đạt 3.917 tỷ nhân dân tệ (1 Nhân dân tệ tương đương 2.200đồng). Sáu tháng đầu năm 2007, thu nhập bình quân của nông dân đạt 2.111 nhân dân tệ, tăng 13,3% so với cùng kỳ năm 2006, cao nhất từ 1995 đến nay. Sản xuất nông nghiệp có những bước tiến mới, bùng nổ phát triển tổ chức hợp tác nông dân chuyên sâu, thúc đẩy phát triển theo phương thức “nhất thôn nhất phẩm” (mỗi thôn một sản phẩm).

Gia Chủy trước đây là thôn đánh cá và trồng trọt nghèo nhất huyện Cao Thuần (Giang Tô), từ khi mở mang nghề đóng tàu và vận tải thủy, nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp, Gia Chuỷ đã trở thành thôn điển hình toàn quốc về nhiều mặt. Trao đổi với Tổng bí thư Nông Đức Mạnh nhân chuyến thăm Trung Quốc, Bí thư Đảng ủy thôn Gia Chủy cho rằng, đó là kết quả của quá trình loại bỏ suy nghĩ phát triển nông thôn chỉ với nguồn đất hạn chế, đột phá khai thác thế mạnh, mở mang ngành nghề. Yếu tố quyết định là lãnh đạo thông suốt, dám làm, quyết tâm cống hiến, kích thích ý thức lập nghiệp và làm giàu của dân. Hiện ở Gia Chuỷ đã có những “biệt thự nông dân”, bên cạnh các “chung cư nông dân”, nằm trong khu quy hoạch nông thôn mới.

Chăn nuôi bò sữa ở Trung Quốc.
Chăn nuôi bò sữa ở Trung Quốc.
Phát triển các doanh nghiệp nông nghiệp là một giải pháp để Trung Quốc thực hiện chính sách tam nông hiệu quả. Tính đến cuối năm 2007, Trung Quốc có khoảng 154.842 doanh nghiệp kinh doanh nông sản, kéo theo sự phát triển của hơn 90,9 triệu hộ sản xuất. Chính sách giáo dục "lưỡng miễn nhất bổ" (miễn phí sách vở, các khoản tạp phí và trợ cấp tiền sinh hoạt phí cho học sinh nội trú thuộc các gia đình khó khăn) đã chung sức gánh vác trách nhiệm cho 150 triệu gia đình có con đang học tiểu học, trung học.

Để đạt được những kết quả trên, Chính phủ Trung Quốc đã thi hành một loạt biện pháp theo phương châm “cho nhiều, thu ít, tạo nhiều việc làm”, mở rộng con đường giúp nông dân tăng thu nhập. Những biện pháp đó bao gồm:

  - Không ngừng tăng thêm sự chi viện của nhà nước cho phát triển nông nghiệp; ngày càng chú trọng tới khu vực nông thôn về các mặt tài chính, thu thuế; tích cực đưa ra các biện pháp, chính sách để giảm bớt khó khăn về tài chính cho các huyện, xã khu vực nông thôn, tăng thêm nguồn ngân sách cho phát triển giáo dục, y tế, văn hoá đối với khu vực nông thôn; tiếp tục hoàn thiện và tăng cường chính sách trợ cấp đối với nông dân.

  - Cố gắng khai thác tiềm lực, nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp. Đồng thời, căn cứ theo nhu cầu của thị trường, đưa ra các biện pháp thích hợp cho từng khu vực để điều chỉnh và nâng cao hiệu quả sản xuất.

  - Đẩy mạnh phát triển xí nghiệp hương trấn, nhanh chóng đưa tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất; phát triển các ngành sản xuất tập trung lao động cao và dịch vụ ở nông thôn, tăng cường thu hút nguồn lao động nông thôn làm việc tại địa phương.

  - Tích cực giải quyết và xoá bỏ những quy định không hợp lý, dần dần xây dựng chế độ việc làm có sự cạnh tranh công bằng và thị trường lao động thống nhất giữa thành thị và nông thôn.

Nền nông nghiệp hiệu quả cao

Nông dân thu hoạch khoai tây.
Nông dân thu hoạch khoai tây.
Công nghiệp hoá nông nghiệp, trồng rau bằng máy vi tính, tiếp thị sản phẩm nông nghiệp qua mạng internet, đó là những kỳ tích mà trước đây có nằm mơ nông dân Trung Quốc cũng không dám nghĩ tới. Vậy mà giờ đây tại các tỉnh như Quảng Đông, Phúc Kiến, Thiên Tân, những chuyện như vậy đã xuất hiện tương đối phổ biến. Người nông dân đời này qua đời khác quen dựa vào ông trời cuối cùng đã "lột xác", rửa chân lên bờ nghe điện thoại di động gọi đặt hàng. Một tầng lớp không phải công nhân cũng không phải nông dân ra đời, đó là công nhân nông nghiệp. Điều kỳ diệu ấy có được nhờ chính sách tam nông.

Có một điều dễ nhận thấy là nhờ thực hiện chính sách tam nông, nông nghiệp, nông thôn Trung Quốc thực sự khởi sắc, trái với những cảnh báo tồi tệ trước khi gia nhập WTO. Sản xuất rau quả và thịt tăng nhanh, hiện là một trong những nước sản xuất lớn nhất các mặt hàng như thịt heo (46% sản lượng thế giới), bông sợi (24%), trà (23%). Sản xuất thủy hải sản tăng gấp ba lần trong 10 năm, chiếm 1/3 sản lượng thế giới. Trung Quốc đứng thứ 8 trên thế giới về xuất khẩu nông sản.

Đó là kết quả của một số điều chỉnh thức thời khi gia nhập WTO nhằm giúp nông dân đứng vững. Một tháng rưỡi sau ngày gia nhập WTO, ngành nông nghiệp Trung Quốc đã nhìn thấy tận mắt những bất lợi của nông dân. Cơ bản là việc phải dỡ bỏ các hàng rào thương mại và mở cửa thị trường trong nước. Khó khăn tăng thêm trong việc kinh doanh các mặt hàng nông sản và sức ép về hệ thống phân phối. Vào thời điểm năm 2001, khi Trung Quốc đã là thành viên của WTO, giá cả của các mặt hàng lúa mì, đậu nành, bắp, vải sợi, dầu thực phẩm và đường cao hơn mức giá thế giới từ 10 đến 70%. Trong khi đó, thịt, rau quả và hải sản thấp hơn mức giá thế giới 40-80% nhưng lại gặp khó khăn trong việc đáp ứng các yêu cầu về sự đa dạng, mẫu mã, hương vị và chế biến. Từ cán cân thuận lợi và bất lợi đó, Trung Quốc đã tìm ra giải pháp: tái cơ cấu nông nghiệp cũng như việc xuất nhập khẩu nông sản.

Do có nguồn lao động dồi dào nhưng lại không có được diện tích đất trồng tương ứng, Trung Quốc thực hiện kế hoạch phát triển lương thực trên quy mô lớn, nhằm nâng cao khả năng sản xuất nông nghiệp; tăng nhập khẩu lúa mì, ngũ cốc, cây lấy dầu, cây chế biến đường, đậu nành, bông; đẩy mạnh xuất khẩu rau quả, hoa màu và các sản phẩm rau quả có tỉ trọng lao động cao. Tập trung vào làm vườn, nuôi trồng thủy sản, đậu nành, chăn nuôi bò sữa, lương thực và các nguồn thực phẩm khác. Từ đó, quy hoạch nhiệm vụ chính tập trung vào sản xuất lúa gạo chất lượng cao ở sông Hoàng Hà và khu vực Huaihai, sản xuất bắp và đậu nành ở khu vực Đông Bắc và phía Đông khu vực Nội Mông, sản xuất bông ở Thiên Tân, thịt cừu và bê ở đồng bằng trung tâm, sản xuất bò sữa ở miền Bắc, trồng cam và hạt cải dầu ở sông Dương Tử,... Tiêu chuẩn chất lượng của hệ thống sản xuất và kiểm tra được xây dựng nhằm đảm bảo chất lượng và độ an toàn của các sản phẩm nông nghiệp.

Ngoài việc điều chỉnh cơ cấu sản xuất, Trung Quốc còn thúc đẩy cải tổ việc quản lý trong nông nghiệp và hệ thống phân phối sản phẩm. Điều này còn quan trọng hơn việc tăng tính cạnh tranh của sản phẩm. Nhờ một loạt chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp của chính phủ, việc giảm diện tích canh tác liên tiếp trong nhiều năm qua đã dừng lại. Thu nhập của nông dân tăng rõ rệt. Nông nghiệp đang được điều chỉnh cơ cấu sản xuất để các sản phẩm có tính cạnh tranh hơn. Nhằm hỗ trợ nông dân, Chính phủ Trung Quốc đang nỗ lực đổi mới cách phát triển nông nghiệp - nông thôn, cố gắng đưa các giống mới chất lượng cao vào sản xuất và hỗ trợ tìm kiếm thị trường mới cho nông sản.

Kinh nghiệm thực hiện chính sách tam nông ở Trung Quốc là bài học cho chúng ta trong chiến lược đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn, nhằm rút ngắn khoảng cách giàu - nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống cho nông dân.

Nguồn: kinhtenongthon.com.vn (10/06/08)

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Liên hiệp Hội Việt Nam chủ trì tổ chức họp các đoàn dự Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI
Căn cứ Thông tri số 10/TT-MTTQ-UB của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam về việc triệu tập đại biểu dự Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI, với vai trò là Trưởng các Đoàn của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức Liên hiệp, Liên hiệp Hội Việt Nam đã chủ trì tổ chức họp các đoàn để triển khai thực hiện thông tri của MTTQ Việt Nam.
Thủ tướng Lê Minh Hưng lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Philippines
Nhận lời mời của Tổng thống nước Cộng hòa Philippines Ferdinand Romualdez Marcos Jr, Chủ tịch ASEAN năm 2026, ngày 7/5, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Minh Hưng dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Cebu, Philippines từ ngày 7 đến 8/5/2026.
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.