Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 23/10/2006 23:35 (GMT+7)

Chi cho KH&CN: Hiệu quả khó đong đếm

Nghiên cứu khoa học không mang lại tiền?

Nếu nhìn nhận đúng bản chất của hoạt động nghiên cứu khoa học thì “toàn bộ quá trình nghiên cứu chắc chắn sẽ không mang lại tiền” - đó là ý kiến rất thẳng thắn của PGS Vũ Cao Đàm phát biểu với các nhà tài chính. Theo ông, đánh giá về hiệu quả kinh tế trong đầu tư cho nghiên cứu khoa học cần phải có cái nhìn chuẩn xác, rạch ròi. Sản phẩm của nghiên cứu khoa học gồm: Nghiên cứu cơ bản (khám phá quy luật và tạo ra các lý thuyết); nghiên cứu ứng dụng (vận dụng lý thuyết để mô tả, giải thích, dự báo và đề xuất các giải pháp); triển khai (chế tác vật mẫu, làm pilot, sản xuất thử). Rõ ràng cả 3 giai đoạn này đều không mang lại lợi ích kinh tế nào, có chăng chỉ là khoản thu hồi ít ỏi, không đáng kể trong quá trình sản xuất thử. Hoạt động KH&CN chỉ bắt đầu mang lại tiền từ giai đoạn chuyển giao tri thức (trong đó bao gồm chuyển giao công nghệ) để phát triển công nghệ trong sản xuất. Nhưng cũng bắt đầu từ đây, sự thành công còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác nhau, nằm ngoài ý chí của nhà khoa học. Ở các nước trên thế giới, giai đoạn này không dùng vốn nghiên cứu mà phải sử dụng vốn vay hoặc vốn đầu tư mạo hiểm. Như vậy, để có tiền, chúng ta phải qua một giai đoạn mất tiền, thậm chí là “ném tiền qua cửa số”, đó là điều khó tránh khỏi trong hoạt động KH&CN.

Ngoài ra, khi đầu tư cho KH&CN, chúng ta phải chấp nhận sự rủi ro. Đây luôn là quy luật đặc thù của nghiên cứu khoa học. Nói như GS Hoàng Tụy thì: Nghiên cứu khoa học là tìm cái mới, dò dẫm, tìm cái chưa biết, phát triển tri thức để giải quyết một vấn đề chưa có giải pháp sẵn. Quá trình tìm tòi, sáng tạo ấy không thể đảm bảo chắc chắn 100% vì thường có những yếu tố bất ngờ, định tìm cái này lại ra cái khác... Đồng thuận với ý kiến đó, TS Nguyễn Đăng Vang (Cục trưởng Cục Chăn nuôi, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn) dẫn chứng: Khảo sát ở Mỹ (5.2006) cho thấy, cứ 10 đề tài nghiên cứu thì chỉ có 1 đề tài có khả năng trở thành hàng hoá.

“Độ trễ” của khoa học cũng cần được nhìn nhận công bằng. Trong thực tế, có nhiều công trình nghiên cứu sau khi kết thúc phải 5, 10 năm, có khi hàng chục năm sau, khi mà KH&CN tiếp tục phát triển và có sự sẵn sàng của các điều kiện kinh tế - xã hội thì lúc đó các công trình này mới phát huy tác dụng, đem lại hiệu quả lớn lao, có khi là cuộc cách mạng về KH&CN. Về điều này, TS Phạm Hữu Giục (Bộ KH&CN) đưa ra ví dụ: Vào đầu thập niên 90, nước ta quyết định xây dựng Nhà máy điện Phú Mỹ 1 (vốn ODA của Nhật), theo tư vấn của Nhật sẽ sử dụng công nghệ tuốc bin ngưng hơi. Các cán bộ năng lượng của Việt Nam với kinh nghiệm của nhiều năm tham gia các chương trình nghiên cứu về năng lượng đã kiến nghị Chính phủ thay công nghệ tuốc bin ngưng hơi bằng công nghệ tuốc bin khí hỗn hợp (chi phí đầu tư và tiêu hao năng lượng thấp hơn). Biết tin này, một hãng của Nhật (cầm chắc thắng thầu cung cấp thiết bị theo công nghệ tuốc bin ngưng hơi) đã vận động hành lang cả hai phía Việt Namvà Nhật Bản để Chính phủ Việt Nam không chuyển đổi công nghệ. Cuối cùng, phía Việt Nam vẫn quyết định chuyển đổi. Việc chuyển đổi này đã tiết kiệm cho Việt Nam 350 triệu USD (chi phí đầu tư) + 400 triệu USD (tiết kiệm nhiên liệu trong 20 năm phát điện) = 750 triệu USD. Khoản tiền này lớn hơn nhiều so với khoản tiền Nhà nước đầu tư cho KH&CN cộng dồn từ 1954 đến đầu 1990. Đặc biệt, nhóm các nhà khoa học kiến nghị việc chuyển đổi công nghệ này từng có không ít các công trình bị coi là “bỏ ngăn kéo”.

Hiệu quả là không thể so sánh

Nhìn từ góc độ bản chất đặc thù của nghiên cứu khoa học thì như vậy, nhưng khi nghiên cứu kết thúc, được ứng dụng thành công trong sản xuất thì hiệu quả từ đầu tư cho KH&CN thể hiện như thế nào? Đó là câu hỏi hoàn toàn chính đáng của các nhà tài chính nói riêng và của nhân dân nói chung. Bàn về vấn đề này, nhiều ý kiến cho rằng khi đặt ra câu hỏi này, chúng ta cũng cần một cái nhìn xa hơn và toàn diện hơn, bởi hiệu quả thực tế mà KH&CN mang lại rất khó so sánh, đặc biệt càng khập khiễng nếu chỉ so sánh với lợi nhuận kinh tế đơn thuần theo kiểu “1 đồng bỏ ra thu được bao nhiêu đồng”. Xin lấy một ví dụ từ việc đầu tư cho sản xuất ốc Hương - mặt hàng xuất khẩu có giá trị kinh tế cao và là đối tượng nuôi có hiệu quả, song không chủ động được giống nên rất khó mở diện tích nuôi. Nhà nước đã đầu tư 1 đề tài cấp bộ và 1 dự án sản xuất thử nghiệm cấp nhà nước cho Viện Nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản III với tổng kinh phí 1 tỷ 300 triệu đồng, thu hồi 500 triệu đồng. Như vậy, chi phí tiêu hao trong quá trình nghiên cứu là 800 triệu đồng. Dự án đã thành công. Biết tin này, một doanh nghiệp đã đề nghị Viện chuyển giao độc quyền với giá 5 tỷ đồng. Viện từ chối và chuyển giao cho Chương trình khuyến ngư. Giả sử Viện đồng ý bán công nghệ với giá 5 tỷ đồng thì có thể tính là 1 đồng đầu tư sẽ thu được 6 đồng, lãi rất lớn (600%). Song bản chất vấn đề là ở chỗ, nếu làm như vậy thì Nhà nước chỉ thu được 1 lần 5 tỷ. Trong khi hơn 3 năm qua, công nghệ này đã được chuyển giao cho 20 điểm ở miền Trung và năm 2005 đã tạo được giá trị hơn 1.000 tỷ đồng, tạo công ăn việc làm cho hàng vạn lao động. Phong trào nuôi ốc Hương xuất khẩu đang phát triển rất nhanh và trong tương lai sẽ tạo được kim ngạch xuất khẩu hàng trăm triệu USD, đồng thời cùng các sản phẩm khác tạo sự bền vững cho xuất khẩu thuỷ sản qua việc đa dạng hoá mặt hàng.

Có thể nói, sự phát triển của các ngành công nghiệp đóng tàu thuỷ, nông nghiệp, thuỷ sản, cơ khí, y tế… đều có dấu ấn quan trọng của KH&CN. GS Phạm Gia Khánh (Giám đốc Học viện Quân y, Chủ nhiệm Chương trình KH&CN phục vụ chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ cộng đồng giai đoạn 2001-2005, mã số KC.10) cho biết: Trong Chương trình KC.10, chỉ tính riêng 3 kỹ thuật mới trong điều trị tim (nong van 2 lá, đặt stent động mạch vành, điều trị rối loạn nhịp tim) và 3 loại vacxin (viêm gan A, viêm gan B, viêm não Nhật Bản) thì mỗi năm đã tiết kiệm cho Nhà nước 600 tỷ đồng. Nếu tính cả Chương trình thì mỗi năm làm lợi cho Nhà nước hàng nghìn tỷ đồng. Trong khi vốn đầu tư cho cả Chương trình chưa đầy 87 tỷ đồng. Đó là chưa kể hiệu quả xã hội mà Chương trình đem lại còn lớn hơn nhiều so với hiệu quả kinh tế.


Hơn nữa, cũng giống như hoạt động nghiên cứu, hiệu quả mà KH&CN mang lại có những đặc thù riêng, cần được nhìn nhận đầy đủ, chính xác, khách quan. Theo TS Phạm Hữu Giục, ngoài hiệu quả trực tiếp, gián tiếp, KH&CN còn có hiệu quả tiềm năng (ví dụ, đầu thập kỷ 70, Việt Nam nghiên cứu về ưu thế lai, 25 năm sau chúng ta đánh bật các công ty của nước ngoài, giành lại thị phần giống ngô lai), hiệu quả mang tính tích hợp (ví dụ, hiện nay Việt Nam đã thực sự làm chủ việc xây dựng các công trình thuỷ điện của mình, đặc biệt trong tư vấn và làm nhà thầu chính - những việc trước đây thường dựa vào nước ngoài, qua kinh nghiệm tích luỹ của các cán bộ KH&CN trong nhiều lĩnh vực).

Tài chính - Nội dung cần cải tiến đầu tiên

Để tăng hiệu quả của hoạt động KH&CN, đổi mới cơ chế tài chính là một vấn đề được các đại biểu đặc biệt quan tâm. PGS Đỗ Huy Định (Công ty APP) cho rằng: “Nếu không nhanh chóng đổi mớichính sách, cơ chế tài chính cho hoạt động KH&CN - yếu tố quyết định tăng năng suất và chất lượng tăng trưởng, thì những cải cách kinh tế và đổi mới hoạt động KH&CN như Nghị định 115, 119… sẽkhó đi vào cuộc sống, gây lãng phí nguồn lực tri thức, không huy động được đội ngũ trí thức người Việt Nam sống ở nước ngoài và người nước ngoài đóng góp cho phát triển KH&CN trong quá trình hộinhập”, đồng thời kiến nghị cần đổi mới quan điểm và cơ chế tài chính cho phù hợp đặc thù của hoạt động KH&CN như phân bổ tài chính, thủ tục giải ngân và thanh quyết toán, định mức chi tiêu….; sớmđưa vào hoạt động Quỹ hỗ trợ KH&CN; làm rõ hơn vấn đề sở hữu trong hoạt động KH&CN.

PGS Vũ Cao Đàm lại quan tâm đến quan niệm về cơ chế “xin - cho”. Theo ông đây là điều tất yếu trong hoạt động KH&CN ở tất cả các nước, bất cứ nhà khoa học nào muốn nhận tài trợ cho nghiên cứu của mình đều phải làm dự án và trình lên cơ quan có chức năng, vấn đề là “xin” và “cho” thế nào, chứ không nên “xoá bỏ” như nhiều ý kiến trong dư luận gần đây. Vẫn theo PGS Đàm thì một trong những tiêu chí để đầu tư “trúng” cho KH&CN là các nhà tài chính phải xác định rõ bản chất của hoạt động KH&CN, như chưa nên đánh thuế hay thu hồi trong giai đoạn triển khai (vì đây vẫn là giai đoạn chưa làm ra tiền), mà chỉ nên áp dụng bắt đầu từ giai đoạn phát triển công nghệ trong sản xuất.

Cùng quan điểm với PGS Đỗ Huy Định và PGS Vũ Cao Đàm, các đại biểu đều nhất trí mong muốn: Tài chính phải thực sự là “bà đỡ”, là công cụ hỗ trợ quan trọng khuyến khích hoạt động KH&CN phát triển; cần sớm chấm dứt tình trạng tài chính “làm khó” nhà khoa học, buộc các nhà khoa học phải nói dối để nhận những thứ mà đáng ra họ phải được hưởng.

Một đại diện của Bộ Tài chính, TS Nguyễn Trường Giang cho biết, trong giai đoạn 2006-2010, “Việc quản lý kinh phí thực hiện các đề tài, dự án KH&CN sẽ theo hướng mở rộng phân cấp và giao quyền tự chủ cho tổ chức, cá nhân chủ trì trong việc sử dụng dự toán kinh phí của đề tài, dự án… theo đó sẽ thực hiện chế độ khoán kinh phí thực hiện đề tài, dự án KH&CN sử dụng kinh phí từ ngân sách nhà nước”.

Hy vọng rằng, trong thời gian sớm nhất, những tâm tư, nguyện vọng của các nhà khoa học sẽ được các nhà quản lý hiểu, chia sẻ thông qua các biện pháp tháo gỡ tích cực. Có lẽ sẽ không thừa, khi nhắc lại: Hiệu quả của hoạt động KH&CN không chỉ phụ thuộc vào ý chí của các nhà khoa học mà còn phụ thuộc vào ý chí của toàn xã hội, đặc biệt là sự quan tâm, hợp tác tích cực từ phía các bộ/ngành liên quan.

Nguồn: Tạp chí Hoạt động khoa học, 09/2006

Xem Thêm

Tạo thuận lợi hơn cho công tác tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế
Dự thảo Quyết định điều chỉnh, sửa đổi Quyết định 06/2020/QĐ-TTg ngày 21/02/2020 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức, quản lý hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam nhằm giải quyết những vướng mắc trong quy định hiện hành, tăng cường phân cấp và đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Để trí thức khoa học tham gia sâu hơn vào công tác Mặt trận
Hội thảo khoa học tại Hà Nội ngày 6/11/2025 đánh giá thực trạng sự tham gia, phối hợp của Liên hiệp Hội Việt Nam trong các hoạt động chung của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giai đoạn 2015-2025. Các chuyên gia thẳng thắn chỉ ra những thành tựu, hạn chế và đề xuất giải pháp cho giai đoạn tới.
Còn nhiều rào cản trong thực thi bộ tiêu chuẩn ESG
Hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) nói chung và DNVVN nói riêng trên địa bàn Thành phố Hà Nội gặp nhiều rào cản và thách thức trong thực thi tiêu chuẩn môi trường, xã hội và quản trị (ESG).
Đắk Lắk: Góp ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng
Ngày 13/6, Liên hiệp hội tỉnh đã tổ chức góp ý kiến đối với dự thảo kế hoạch tổ chức hội nghị lấy ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng và dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2025 – 2030.
Hà Giang: Góp ý dự thảo sửa đổi Luật Chất lượng sản phẩm
Ngày 13/6, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp hội) tỉnh đã tổ chức hội thảo góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hoá (CLSPHH). Tham dự hội thảo có lãnh đạo đại diện các Sở, ban ngành của tỉnh, các hội thành viên Liên hiệp hộivà các chuyên gia TVPB.
Đắk Lắk: Hội nghị phản biện Dự thảo Nghị quyết về bảo đảm thực hiện dân chủ cơ sở
Sáng ngày 27/5/2025, tại trụ sở Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (Liên hiệp hội) đã diễn ra Hội nghị phản biện và góp ý đối với Dự thảo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh Đắk Lắk về việc quyết định các biện pháp bảo đảm thực hiện dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh.
Phú Thọ: Lấy ý kiến về Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013
Sáng ngày 20/5/2025, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ (Liên hiệp hội) tổ chức hội thảo lấy ý kiến của đội ngũ trí thức, chuyên gia, nhà khoa học về dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.

Tin mới

Trí thức Liên hiệp Hội Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số và AI
Một nhiệm vụ quan trọng của Liên hiệp Các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) là tổ chức tập hợp đông đảo đội ngũ trí thức khoa học cả nước. Trong bối cảnh chuyển đổi số và AI, các trí thức Liên hiệp Hội Việt Nam cần đổi mới để trở thành lực lượng tư vấn chiến lược và phản biện chính sách hiệu quả hơn…
GS.VS. Châu Văn Minh được trao tặng Huân chương Độc lập
Chiều ngày 3/4, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm đã chủ trì buổi Lễ trao tặng các danh hiệu cao quý của Đảng và Nhà nước. GS.VS. Châu Văn Minh, Ủy viên Trung ương Đảng khóa XIII, Bí thư Đảng ủy VUSTA đã được trao tặng Huân chương Độc lập hạng Ba. Đây là phần thưởng cao quý ghi nhận những đóng góp đặc biệt xuất sắc của ông cho sự nghiệp khoa học và xây dựng đất nước.
Hội Tự động hóa Việt Nam tham dự CMES Shanghai 2026, tăng cường kết nối giao thương quốc tế
Từ ngày 23 đến 26/3/2026, tại Thượng Hải, Trung Quốc, Triển lãm Quốc tế Máy công cụ và Công nghệ chế tạo CMES Shanghai 2026 đã diễn ra sôi động, thu hút sự tham gia của đông đảo doanh nghiệp và chuyên gia trong lĩnh vực cơ khí chế tạo, tự động hóa và sản xuất thông minh trên toàn cầu.
Công bố Quyết định của Bộ Chính trị về công tác tổ chức và cán bộ
Sáng 1/4, tại Hà Nội, Bộ Chính trị tổ chức hội nghị công bố Quyết định của Bộ Chính trị về công tác tổ chức và cán bộ đối với 5 cơ quan. Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính dự hội nghị. Đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư trao các quyết định và phát biểu ý kiến chỉ đạo.