Chế độ dinh dưỡng phòng ngừa & điều trị xơ vữa động mạch
Nguyên nhân là do chế độ ăn uống giàu mỡ động vật, thừa cholesterol LDL (cholesterol xấu) tạo nguy cơ các mảng xơ vữa động mạch. Nhưng đó không phải là nguyên nhân duy nhất. Các nhà nghiên cứu lưu ý các yếu tố:
- Di truyền, vì có một số dạng xơ vữa động mạch di truyền.
- Nhiễm trùng (vi khuẩn Chlamydia pneumoniaecó mặt trong 68% các ca nhồi máu cơ tim).
- Tác dụng của các chất oxy hoá độc hại (hormon, nicotin, những phân tử stress).
- Vai trò hormon cục bộ (cytokin và endothelin), oxit nitrogen, hồng cầu thiếu oxy, kháng insulin trong bệnh đái tháo đường týp II và béo phù.
- Sống thiếu vận động.
Nguy cơ quan trọng nhất của bệnh xơ vữa động mạch là các mảng xơ vữa tách ra, kéo theo sự hình thành cục máu, gây đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim, đột quỵ, hoại tử.
Vì vậy chế độ dinh dưỡng đóng vai trò quan trọng trong việc đề phòng sinh bệnh và điều trị bệnh.
Phòng ngừa bệnh là chủ yếu.Mỗi người đều có nguy cơ mắc bệnh xơ vữa động mạch ở mức độ nhiều hay ít, nhất là sau tuổi 50, nên cần có chế độ ăn hợp lý, cân bằng và phong phú; chủ yếu là tránh cung cấp quá nhiều năng lượng so với năng lượng tiêu hao, để trọng lượng cơ thể không vượt trọng lượng lý tưởng. Béo phì là một yếu tố nguy cơ quan trọng trong bệnh xơ vữa động mạch.
- Dùng thức ăn ít chất béo.
Trong khẩu phần chỉ nên chiếm tối đa 30% năng lượng gồm: 1/3 chất béo bão hoà (no), 1/3 chất béo không no có một nối đôi, 1/3 chất béo không no đa nối đôi.
Thịt, trứng, sữa, phô mát chứa nhiều axit béo no; vì vậy chỉ dùng thêm chất béo không no (dầu Đậu nành, dầu Hướng dương…). Hạn chế kem, sữa, bơ, mỡ heo. Nên thường xuyên ăn cá, vì chứa ít chất béo hơn thịt. Cá béo chứa nhiều chất béo không no, có khả năng kháng sự tạo mảng xơ vữa và giảm cholesterol trong máu.
- Dùng vừa phải các thức ăn giàu cholesterol, không nên quá 300 mg cholesterol mỗi ngày.
- Tránh dùng cùng một lúc đường sacaroz và chất béo bão hoà, không nên dùng thường xuyên chocolat, bánh kem bơ.
- Không ăn quá mặn, muối là một trong những nguyên nhân làm huyết áp tăng. Khẩu phần muối tối ưu khuyên dùng là 5g/ ngày. Do thực phẩm bình thường chứa lượng natri tương đương với 2 hay 3g muối/ ngày, nên chỉ thêm vào các thức ăn ít hơn 3g muối/ ngày.
- Nên cung cấp cho cơ thể selenium ít nhất 80mcg/ ngày. Người thường dùng cá không thiếu selenium.
- Không nên sử dụng thuốc lá. Nếu là người nghiện thuốc lá, nên giảm dần số điếu để tiến tới bỏ thuốc lá.
- Nên hoạt động cơ thể đều đặn.
Chế độ dinh dưỡng trong khi điều trịcũng giống như chế độ phòng ngừa, nhưng phải áp dụng triệt để.
- Giảm tổng quát khẩu phần ăn: nhận thấy có liên quan mật thiết giữa béo phì và tăng cholesterol huyết, nên cần chú ý đến cân nặng. Nếu người bệnh thuộc nhóm béo phì, nên giảm cân, đến khi cân nặng hợp với chiều cao. Vì vậy, cần giảm chất béo, để giảm năng lượng nhằm giảm cholesterol huyết. Bệnh nhân béo phì cần có chế độ tiết chế để giảm cân. Phải giảm khoảng 500 – 700 g/tuần.
- Không nên dùng các thức ăn giàu cholesterol, tránh dùng các loại phủ tạng (heo, bò, gà, vịt), tôm, cua, sò đá. Nên dùng thịt ít cholesterol: thịt bê, gà, thỏ, cá, sữa không kem.
- Tránh dùng mỡ bão hoà, thay thế bằng dầu thực vật và cá béo. Các axit béo không no vận chuyển các lipid và cholesterol; vì vậy, cần giảm sử dụng axit béo không no.
- Tránh lạm dụng chất mỡ động vật, Fullerton xác định dùng nhiều mỡ động vật làm máu dễ đông. Một bữa ăn quá nhiều chất béo (65 – 85g) làm giảm thời gian đông máu.
Bảng hàm lượng cholesterol (mg/100g thực phẩm) | |||
Óc heo | 2.000 | Tôm hùm | 145 |
Thịt heo | 900 | Thịt bò | 125 |
Tôm | 450 | Sữa tươi | 110 |
Gan heo | 420 | Thịt gà | 90 |
Thận bò | 400 | Thịt bê | 65 |
Bơ | 280 | Cá hồi | 60 |
1 quả trứng | 250 | Thịt thỏ | 50 |
Sò đá | 230 | ||








