Chất lượng môn lịch sử ở trường phổ thông với việc đào tạo giáo viên dạy sử
Chúng ta hãy xem thống kê về điểm thi Đại học – Cao đẳng môn Lịch sử khối C trong 2 năm (2004 – 2005) ở trường ĐHSP Hà Nội (bảng 1).
Thống kê tuyển sinh Đại học - Cao đẳng môn lịch sử trong hai năm 2006 và 2007 ở ĐHSP Hà Nội cho con số như sau (bảng 2).
![]() |
| Bảng 2 |
Thống kê tuyển sinh Đại học - Cao đẳng môn lịch sử trong năm 2007 ở ĐHSP Thành phố Hồ Chí Minh đưa ra con số (bảng 3).
![]() |
| Bảng 3 |
Số liệu nói lên hành trang về môn lịch sử mà học sinh có được ở phổ thông để bước vào đại học hay nói chung bước vào đời rất nghèo nàn. Cũng xin nhấn mạnh, phần nhiều thí sinh xét thấy không có khả năng đỗ thì không đám đăng ký thi vào trường ĐHSP Hà Nội, vì trên thực tế điểm tuyển sinh vào khối C ở ĐHSP Hà Nội vào tốp cao nhất trong các trường đại học. Các trường ở khu vực khác như Thái Nguyên, Tây Bắc, khu vực phía Nam, theo phản ánh của đồng nghiệp còn thấp hơn nhiều. Ví dụ: ĐHSP Thành phố Hồ Chí Minh năm 2007, điểm 0 môn sử như thống kê trên là 535, điểm dưới trung bình (không tính điểm 0) chiếm 87,7%; điểm bình quân môn lịch sử thi vào trường ĐH KHXH & NV thành phố Hồ Chí Minh là 1,5. Khoa Lịch sử ĐHSP Hà Nội chấm thi cho trường Đại học Hùng Vương (Phú Thọ) mà thí sinh chủ yếu ở khu vực mấy tỉnh trung du và vùng núi phía Bắc hay Đại học Công đoàn, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia mà ở đó sự canh tranh không gay gắt thì kết quả thấp hơn nhiều.
Vấn đề đặt ra: cái gì là nguồn gốc chủ yếu của sự yếu kém này? Hay hiện trạng đáng buồn này là do kết cục tổng hợp của nhiều nguyên nhân....
- Chúng ta chưa đặt môn lịch sử trong hệ thống đào tạo đúng vị trí của nó để nó phát huy được lợi thế mình là môn học giáo dục truyền thống tốt nhất cho thế hệ trẻ. Ở nhiều nước tiên tiến, họ rất coi trọng giáo dục truyền thống dân tộc bằng những trang sử vẻ vang của mình, cho nên trong 5 – 6 môn thi tốt nghiệp THPT thì môn sử la một trong những môn thi bắt buộc.
- Không có văn bản nào quy định môn lịch sử là môn phụ, nhưng trong thực tiễn, cách điều hành của không ít cơ sở giáo dục phổ thông, vô tình đã làm cho môn sử trở thành môn phụ. Đã là môn phụ thì không cần đầu tư hay dành thời gian học tập thoả đáng cho môn này.
- Sách giáo khoa của chúng ta chưa hấp dẫn, có phần còn khô, còn nặng tính hàn lâm, thậm chí còn sai sót, chưa phù hợp với lứa tuổi.
- Không ít người lớn và học sinh quan niệm môn sử chỉ là môn học thuộc, không cần đầu tư (về thời gian, vật chất, phương pháp...) và chỉ là môn dành cho những học sinh không có khả năng thi khối A, B, D...
- Về việc ra đề thi tuyển sinh và đáp án trong vài năm gần đây cũng có nhiều vấn đề phải bàn: sai sót có, khó có, ngoài giới hạn có, không rõ ràng, làm thí sinh hiểu sai lệch khi làm bài... Đây là một nguyên nhân ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả làm bài của học sinh.
Có thể nêu ra nhiều nguyên nhân nữa nhưng ở đây, chúng tôi tập trung vào phân tích việc đào tạo đội ngũ giáo viên và chất lượng đội ngũ giáo viên dạy sử.
Chất lượng đội ngũ giáo viên dạy sử như thế nào sẽ tác động đến quá trình giáo dục lịch sử thế ấy. Hiện nay ở nước ta nhiều trường đại học được mở ra, trong đó có ngành đào tạo sư phạm lịch sử và sử thuộc khoa xã hội nhân văn. Theo thống kê chưa đầy đủ của chúng tôi, hiện nay ở nước ta có khoảng 21 trường đại học đang đào tạo sinh viên ngành lịch sử, chưa kể cả một hệ thống các trường cao đẳng sư phạm rải rác ở các tỉnh – thành. Trong hệ thống giáo dục lịch sử ở đại học, chỉ có khoảng 6 khoa lịch sử trong 6 trường đại học trong tổng số 21 trường là có khả năng đào tạo được những cử nhân lịch sử làm công tác giảng dạy và nghiên cứu mà xã hội quan tâm, còn những cơ sở đào tạo còn lại, chất lượng đào tạo là điều đáng lo ngại. Đấy là chưa tính đến chất lượng đào tạo ngành lịch sử trong các trường cao đẳng và một loạt các trường đại học vừa mới mở ra.
Điều lo ngại ấy thể hiện rõ nhất ở đội ngũ cán bộ giảng dạy. Có thể nói, đội ngũ cán bộ giảng dạy lịch sử ở các cơ sở đào tạo này vừa thiếu về số lượng, vừa yếu về chuyên môn. Hiện nay, tỉnh nào cũng muốn ở tỉnh mình có một vài trường đại học, mong muốn này là chính đáng, nhưng để có một trường đại học với đúng nghĩa là trình độ đại học thì cần phải có những điều kiện tối thiểu về cơ sở vật chất, đặc biệt là con người. Trên thực tế, ở nhiều tỉnh không hội tụ đủ những điều kiện ấy, chưa có sự chuẩn bị cho sự ra đời của một trường đại học. Họ chỉ tập trung dự án, đi mượn tên của các nhà khoa học, các cán bộ giảng dạy ở một số trường đại học lâu năm, uy tín, lập danh sách và trình bày với các cấp có thẩm quyền cùng với dự án. Có hồ sơ đầy đủ, được Bộ đồng ý. Chính phủ ra quyết định, thế là họ mở trường.
Những con người này hôm qua dạy trung học sư phạm, cao đẳng sư phạm (thậm chí cũng chưa đủ chuẩn), thì hôm nay có trường đại học vẫn con người ấy lại dạy đại học; hôm qua là trường cao đẳng, hôm nay (vẫn cơ sở ấy) là trường đại học, những cán bộ trong danh sách mà họ mượn tên không hề được mời dạy (vì phải trà tiền cao).
Có những cơ sở đại học (ở phía Bắc) chỉ có 3 - 4 người dạy lịch sử Đảng trong bộ môn Mác - Lênin, họ chưa thông thạo lịch sử dân tộc, lại càng ít hiểu biết về lịch sử thế giới và không có kiến thức về nghiệp vụ sư phạm, thế mà họ mở cả ngành sư phạm lịch sử. Những sinh viên họ đào tạo ra cũng là cử nhân, bằng thì thật, nhưng kiến thức ... thì chưa thật.
Có cơ sở đào tạo đại học ở miền Trung, được phép đào tạo cao học đàng hoàng và đào tạo đến 15 – 16 khoá thạc sĩ rồi. Nhưng thưa, như một học viên tâm sự với thầy dạy đại học trước đây ở Hà Nội: “ Chúng em học ở đây được cái gần nhà, gần cơ quan công tác, được cái bằng thạc sĩ thật, nhưng cả hai năm học ở đây em không kiếm thêm được kiến thức gì hơn hồi học đại học, thậm chí còn phải sử dụng chuyên đề trước kia học đại học ở Hà Nội cho các bạn khác phô tô để học và thi lấy điểm”.
Lại có trường hợp ở đồng bằng Nam Bộ, cách đây vài năm là trường cao đẳng sư phạm, đội ngũ giáo viên khi ấy vừa thiếu lại vừa yếu, đào tạo hệ cao đẳng sư phạm ngành sử còn bất cập, thế nhưng khi được nâng cấp lên đại học, lập tức họ có đủ tư cách pháp nhân mở hệ đại học tại chức. Dạy không xuể, họ thuê giáo viên ngành sử các trường cao đẳng để đào tạo đại học. Và đương nhiên, chất lượng các cử nhân ấy ra trường như thế nào thì chúng ta đã rõ.
Nhiều thế hệ sinh viên đã học ở phía Bắc phàn nàn: toàn bộ phần lịch sử thế giới cận - hiện đại, chúng em học ở trường là con số không, vì ông thầy phụ trách dạy phần này kiến thức không hơn gì chúng em, thậm chí còn sai sót nữa, chúng em ngồi nghe giảng mất thời gian ...
Điểm qua tình hình ở một vài cơ sở đại học - cao đẳng như vậy, chúng ta hình dung ra một lôgic tiếp theo là chất lượng sản phẩm của các cơ sở ấy là gì.
Khoa xã hội của một trường đại học mới được nâng cấp từ cao đẳng lên ở phía Bắc, đội ngũ giáo viên cho ngành sư phạm còn thiếu, không đủ chuẩn, còn phải đi mời giảng, thế nhưng họ lập tức mở cả ngành lịch sử xã hội nhân văn bên cạnh ngành sư phạm lịch sử. Chương trình giống như đào tạo ngành sư phạm lịch sử, chỉ cắt phần nghiệp vụ đi, không có chuyên ngành, cũng chẳng có chuyên sâu. Chương trình không đạt, mục tiêu không rõ như thế thì đủ biết chất lượng những sinh viên ấy ra trường rồi sẽ như thế nào! Và hầu như những sinh viên này ra trường đều tìm cách chuyển sang làm giáo viên ở phổ thông.
Các cơ sở đào tạo đại học chưa chú ý đến công tác đào tạo sinh viên ngành KHXHNV nói chung và sinh viên ngành lịch sử nói riêng. Xin nêu một ví dụ: Trong ngân sách đào tạo dành cho một sinh viên tính theo đầu người trong một năm học, dù sinh viên đó theo học ngành khoa học tự nhiên, công nghệ hay KHXHNV mà Nhà nước đầu tư như nhau, nhưng khi về trường, nhà trường sắp xếp lại: sinh viên ngành KHTN được đầu tư gấp đôi sinh viên ngành KHXHNV (500.000 đ/ SV KHTN và 250.000 đ/ SV KHXHNV). Một điều cũng khá rõ ràng: đầu tư như thế nào thì chất lượng sẽ như thế ấy.
Từ khâu đào tạo đội ngũ giáo viên dạy sử, chúng tôi mạnh dạn nêu lên một vài giải pháp:
1. Về việc mở các trường Đại học, Bộ Giáo dục - Đào tạo cần kiểm tra thực tế cơ sở vật chất, nhất là đội ngũ cán bộ cơ hữu đủ trình độ quy định, ngăn chặn các cơ sở mở trường Đại học mượn tên cán bộ của các trường đại học khác. Trường nào đã mở thì cần đầu tư cơ sở vật chất và đặc biệt là thúc đẩy trường đó phải có biện pháp để đào tạo đội ngũ cán bộ giảng dạy về chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm. Cần quy định tiêu chuẩn cho đội ngũ cán bộ cơ hữu, số lượng và trình độ là bao nhiêu mới mở được trường đại học, đào tạo cao học hay đào tạo nghiên cứu sinh. Rà soát lại những cơ sở không đủ tiêu chuẩn và mạnh dạn tạm dừng việc tuyển sinh ở các cơ sở này để họ chuẩn bị cho đến khi đủ điều kiện, nếu không những sản phẩm của họ đào tạo ra sẽ làm khổ nhiều thế hệ tiếp theo.
2. Giao cho các trường đủ điều kiện, đủ tiêu chuẩn của một trường đại học tự chủ về đào tạo: tự chủ về chương trình, phương pháp đào tạo, hợp tác quốc tế... nhất là đối với những trường trọng điểm. Văn bằng, hình thức văn bằng do các trường tự chủ để làm sao cho sinh viên học ở trường này tự hào về thương hiệu của trường. Các cơ sở tuyển dụng cũng dựa vào thương hiệu để họ tuyển dụng.
3. Về mặt tư tưởng, phải định hướng lại cho giáo viên, học sinh và phụ huynh không xem môn lịch sử là môn phụ. Định hướng đó không phải bằng chỉ thị hay nghị quyết mà bằng sự chỉ đạo, điều hành hoạt động dạy - học hàng ngày trong nhà trường. Chẳng hạn, chỉ đạo không dạy dồn tiết môn sử, rồi dành thời lượng còn lại cho những môn khác, hay không bỏ chương trình, nội dung khi Bộ Giáo dục - Đào tạo công bố môn thi tốt nghiệp mà không có môn sử, chỉ vì họ thiếu giờ chuẩn...
4. Trong hoạt động dạy - học, người thầy phải tâm huyết, say sưa với nghề nghiệp, có như thế mới quyết tâm đổi mới phương pháp dạy học, đầu tư cho bài giảng. Dạy học lịch sử bằng tấm lòng, bằng sự say mê, dạy hấp dẫn để lôi cuốn các em yêu thích môn lịch sử.
Chúng ta cố gắng tạo ra người thày với yêu cầu như thế.
Nguồn: Xưa & Nay, số 303, 3 - 2008, tr IV










