Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 28/04/2008 23:06 (GMT+7)

Chất lượng môn lịch sử ở trường phổ thông với việc đào tạo giáo viên dạy sử

Chúng ta hãy xem thống kê về điểm thi Đại học – Cao đẳng môn Lịch sử khối C trong 2 năm (2004 – 2005) ở trường ĐHSP Hà Nội (bảng 1).

Thống kê tuyển sinh Đại học - Cao đẳng môn lịch sử trong hai năm 2006 và 2007 ở ĐHSP Hà Nội cho con số như sau (bảng 2).

Bảng 2
Bảng 2

Thống kê tuyển sinh Đại học - Cao đẳng môn lịch sử trong năm 2007 ở ĐHSP Thành phố Hồ Chí Minh đưa ra con số (bảng 3).

Bảng 3
Bảng 3
Những thống kê trên cho thấy, chất lượng môn lịch sử trong trường phổ thông quá thấp, điểm không quá nhiều, điểm trung bình cộng từ 2 đến 3, điểm trung bình từ 5 trở lên chỉ chiếm 1/6 đến 1/5tổng số học sinh thi môn lịch sử, điểm khá - giỏi quá ít.

Số liệu nói lên hành trang về môn lịch sử mà học sinh có được ở phổ thông để bước vào đại học hay nói chung bước vào đời rất nghèo nàn. Cũng xin nhấn mạnh, phần nhiều thí sinh xét thấy không có khả năng đỗ thì không đám đăng ký thi vào trường ĐHSP Hà Nội, vì trên thực tế điểm tuyển sinh vào khối C ở ĐHSP Hà Nội vào tốp cao nhất trong các trường đại học. Các trường ở khu vực khác như Thái Nguyên, Tây Bắc, khu vực phía Nam, theo phản ánh của đồng nghiệp còn thấp hơn nhiều. Ví dụ: ĐHSP Thành phố Hồ Chí Minh năm 2007, điểm 0 môn sử như thống kê trên là 535, điểm dưới trung bình (không tính điểm 0) chiếm 87,7%; điểm bình quân môn lịch sử thi vào trường ĐH KHXH & NV thành phố Hồ Chí Minh là 1,5. Khoa Lịch sử ĐHSP Hà Nội chấm thi cho trường Đại học Hùng Vương (Phú Thọ) mà thí sinh chủ yếu ở khu vực mấy tỉnh trung du và vùng núi phía Bắc hay Đại học Công đoàn, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia mà ở đó sự canh tranh không gay gắt thì kết quả thấp hơn nhiều.

Vấn đề đặt ra: cái gì là nguồn gốc chủ yếu của sự yếu kém này? Hay hiện trạng đáng buồn này là do kết cục tổng hợp của nhiều nguyên nhân....

- Chúng ta chưa đặt môn lịch sử trong hệ thống đào tạo đúng vị trí của nó để nó phát huy được lợi thế mình là môn học giáo dục truyền thống tốt nhất cho thế hệ trẻ. Ở nhiều nước tiên tiến, họ rất coi trọng giáo dục truyền thống dân tộc bằng những trang sử vẻ vang của mình, cho nên trong 5 – 6 môn thi tốt nghiệp THPT thì môn sử la một trong những môn thi bắt buộc.

- Không có văn bản nào quy định môn lịch sử là môn phụ, nhưng trong thực tiễn, cách điều hành của không ít cơ sở giáo dục phổ thông, vô tình đã làm cho môn sử trở thành môn phụ. Đã là môn phụ thì không cần đầu tư hay dành thời gian học tập thoả đáng cho môn này.

- Sách giáo khoa của chúng ta chưa hấp dẫn, có phần còn khô, còn nặng tính hàn lâm, thậm chí còn sai sót, chưa phù hợp với lứa tuổi.

- Không ít người lớn và học sinh quan niệm môn sử chỉ là môn học thuộc, không cần đầu tư (về thời gian, vật chất, phương pháp...) và chỉ là môn dành cho những học sinh không có khả năng thi khối A, B, D...

- Về việc ra đề thi tuyển sinh và đáp án trong vài năm gần đây cũng có nhiều vấn đề phải bàn: sai sót có, khó có, ngoài giới hạn có, không rõ ràng, làm thí sinh hiểu sai lệch khi làm bài... Đây là một nguyên nhân ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả làm bài của học sinh.

Có thể nêu ra nhiều nguyên nhân nữa nhưng ở đây, chúng tôi tập trung vào phân tích việc đào tạo đội ngũ giáo viên và chất lượng đội ngũ giáo viên dạy sử.

Chất lượng đội ngũ giáo viên dạy sử như thế nào sẽ tác động đến quá trình giáo dục lịch sử thế ấy. Hiện nay ở nước ta nhiều trường đại học được mở ra, trong đó có ngành đào tạo sư phạm lịch sử và sử thuộc khoa xã hội nhân văn. Theo thống kê chưa đầy đủ của chúng tôi, hiện nay ở nước ta có khoảng 21 trường đại học đang đào tạo sinh viên ngành lịch sử, chưa kể cả một hệ thống các trường cao đẳng sư phạm rải rác ở các tỉnh – thành. Trong hệ thống giáo dục lịch sử ở đại học, chỉ có khoảng 6 khoa lịch sử trong 6 trường đại học trong tổng số 21 trường là có khả năng đào tạo được những cử nhân lịch sử làm công tác giảng dạy và nghiên cứu mà xã hội quan tâm, còn những cơ sở đào tạo còn lại, chất lượng đào tạo là điều đáng lo ngại. Đấy là chưa tính đến chất lượng đào tạo ngành lịch sử trong các trường cao đẳng và một loạt các trường đại học vừa mới mở ra.

Điều lo ngại ấy thể hiện rõ nhất ở đội ngũ cán bộ giảng dạy. Có thể nói, đội ngũ cán bộ giảng dạy lịch sử ở các cơ sở đào tạo này vừa thiếu về số lượng, vừa yếu về chuyên môn. Hiện nay, tỉnh nào cũng muốn ở tỉnh mình có một vài trường đại học, mong muốn này là chính đáng, nhưng để có một trường đại học với đúng nghĩa là trình độ đại học thì cần phải có những điều kiện tối thiểu về cơ sở vật chất, đặc biệt là con người. Trên thực tế, ở nhiều tỉnh không hội tụ đủ những điều kiện ấy, chưa có sự chuẩn bị cho sự ra đời của một trường đại học. Họ chỉ tập trung dự án, đi mượn tên của các nhà khoa học, các cán bộ giảng dạy ở một số trường đại học lâu năm, uy tín, lập danh sách và trình bày với các cấp có thẩm quyền cùng với dự án. Có hồ sơ đầy đủ, được Bộ đồng ý. Chính phủ ra quyết định, thế là họ mở trường.

Những con người này hôm qua dạy trung học sư phạm, cao đẳng sư phạm (thậm chí cũng chưa đủ chuẩn), thì hôm nay có trường đại học vẫn con người ấy lại dạy đại học; hôm qua là trường cao đẳng, hôm nay (vẫn cơ sở ấy) là trường đại học, những cán bộ trong danh sách mà họ mượn tên không hề được mời dạy (vì phải trà tiền cao).

Có những cơ sở đại học (ở phía Bắc) chỉ có 3 - 4 người dạy lịch sử Đảng trong bộ môn Mác - Lênin, họ chưa thông thạo lịch sử dân tộc, lại càng ít hiểu biết về lịch sử thế giới và không có kiến thức về nghiệp vụ sư phạm, thế mà họ mở cả ngành sư phạm lịch sử. Những sinh viên họ đào tạo ra cũng là cử nhân, bằng thì thật, nhưng kiến thức ... thì chưa thật.

Có cơ sở đào tạo đại học ở miền Trung, được phép đào tạo cao học đàng hoàng và đào tạo đến 15 – 16 khoá thạc sĩ rồi. Nhưng thưa, như một học viên tâm sự với thầy dạy đại học trước đây ở Hà Nội: “ Chúng em học ở đây được cái gần nhà, gần cơ quan công tác, được cái bằng thạc sĩ thật, nhưng cả hai năm học ở đây em không kiếm thêm được kiến thức gì hơn hồi học đại học, thậm chí còn phải sử dụng chuyên đề trước kia học đại học ở Hà Nội cho các bạn khác phô tô để học và thi lấy điểm”.

Lại có trường hợp ở đồng bằng Nam Bộ, cách đây vài năm là trường cao đẳng sư phạm, đội ngũ giáo viên khi ấy vừa thiếu lại vừa yếu, đào tạo hệ cao đẳng sư phạm ngành sử còn bất cập, thế nhưng khi được nâng cấp lên đại học, lập tức họ có đủ tư cách pháp nhân mở hệ đại học tại chức. Dạy không xuể, họ thuê giáo viên ngành sử các trường cao đẳng để đào tạo đại học. Và đương nhiên, chất lượng các cử nhân ấy ra trường như thế nào thì chúng ta đã rõ.

Nhiều thế hệ sinh viên đã học ở phía Bắc phàn nàn: toàn bộ phần lịch sử thế giới cận - hiện đại, chúng em học ở trường là con số không, vì ông thầy phụ trách dạy phần này kiến thức không hơn gì chúng em, thậm chí còn sai sót nữa, chúng em ngồi nghe giảng mất thời gian ...

Điểm qua tình hình ở một vài cơ sở đại học - cao đẳng như vậy, chúng ta hình dung ra một lôgic tiếp theo là chất lượng sản phẩm của các cơ sở ấy là gì.

Khoa xã hội của một trường đại học mới được nâng cấp từ cao đẳng lên ở phía Bắc, đội ngũ giáo viên cho ngành sư phạm còn thiếu, không đủ chuẩn, còn phải đi mời giảng, thế nhưng họ lập tức mở cả ngành lịch sử xã hội nhân văn bên cạnh ngành sư phạm lịch sử. Chương trình giống như đào tạo ngành sư phạm lịch sử, chỉ cắt phần nghiệp vụ đi, không có chuyên ngành, cũng chẳng có chuyên sâu. Chương trình không đạt, mục tiêu không rõ như thế thì đủ biết chất lượng những sinh viên ấy ra trường rồi sẽ như thế nào! Và hầu như những sinh viên này ra trường đều tìm cách chuyển sang làm giáo viên ở phổ thông.

Các cơ sở đào tạo đại học chưa chú ý đến công tác đào tạo sinh viên ngành KHXHNV nói chung và sinh viên ngành lịch sử nói riêng. Xin nêu một ví dụ: Trong ngân sách đào tạo dành cho một sinh viên tính theo đầu người trong một năm học, dù sinh viên đó theo học ngành khoa học tự nhiên, công nghệ hay KHXHNV mà Nhà nước đầu tư như nhau, nhưng khi về trường, nhà trường sắp xếp lại: sinh viên ngành KHTN được đầu tư gấp đôi sinh viên ngành KHXHNV (500.000 đ/ SV KHTN và 250.000 đ/ SV KHXHNV). Một điều cũng khá rõ ràng: đầu tư như thế nào thì chất lượng sẽ như thế ấy.

Từ khâu đào tạo đội ngũ giáo viên dạy sử, chúng tôi mạnh dạn nêu lên một vài giải pháp:

1. Về việc mở các trường Đại học, Bộ Giáo dục - Đào tạo cần kiểm tra thực tế cơ sở vật chất, nhất là đội ngũ cán bộ cơ hữu đủ trình độ quy định, ngăn chặn các cơ sở mở trường Đại học mượn tên cán bộ của các trường đại học khác. Trường nào đã mở thì cần đầu tư cơ sở vật chất và đặc biệt là thúc đẩy trường đó phải có biện pháp để đào tạo đội ngũ cán bộ giảng dạy về chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm. Cần quy định tiêu chuẩn cho đội ngũ cán bộ cơ hữu, số lượng và trình độ là bao nhiêu mới mở được trường đại học, đào tạo cao học hay đào tạo nghiên cứu sinh. Rà soát lại những cơ sở không đủ tiêu chuẩn và mạnh dạn tạm dừng việc tuyển sinh ở các cơ sở này để họ chuẩn bị cho đến khi đủ điều kiện, nếu không những sản phẩm của họ đào tạo ra sẽ làm khổ nhiều thế hệ tiếp theo.

2. Giao cho các trường đủ điều kiện, đủ tiêu chuẩn của một trường đại học tự chủ về đào tạo: tự chủ về chương trình, phương pháp đào tạo, hợp tác quốc tế... nhất là đối với những trường trọng điểm. Văn bằng, hình thức văn bằng do các trường tự chủ để làm sao cho sinh viên học ở trường này tự hào về thương hiệu của trường. Các cơ sở tuyển dụng cũng dựa vào thương hiệu để họ tuyển dụng.

3. Về mặt tư tưởng, phải định hướng lại cho giáo viên, học sinh và phụ huynh không xem môn lịch sử là môn phụ. Định hướng đó không phải bằng chỉ thị hay nghị quyết mà bằng sự chỉ đạo, điều hành hoạt động dạy - học hàng ngày trong nhà trường. Chẳng hạn, chỉ đạo không dạy dồn tiết môn sử, rồi dành thời lượng còn lại cho những môn khác, hay không bỏ chương trình, nội dung khi Bộ Giáo dục - Đào tạo công bố môn thi tốt nghiệp mà không có môn sử, chỉ vì họ thiếu giờ chuẩn...

4. Trong hoạt động dạy - học, người thầy phải tâm huyết, say sưa với nghề nghiệp, có như thế mới quyết tâm đổi mới phương pháp dạy học, đầu tư cho bài giảng. Dạy học lịch sử bằng tấm lòng, bằng sự say mê, dạy hấp dẫn để lôi cuốn các em yêu thích môn lịch sử.

Chúng ta cố gắng tạo ra người thày với yêu cầu như thế.

Nguồn: Xưa & Nay, số 303, 3 - 2008, tr IV

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Tạp chí Việt Nam Hội nhập đạt chuẩn Tạp chí khoa học năm 2026
Vừa qua, Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Quyết định số 2244/QĐ-BKHCN và Quyết định 2823/QĐ-BKHCN để công bố danh mục tạp chí đạt tiêu chuẩn khoa học Việt Nam năm 2026. Sự kiện này đánh dấu một bước tiến quan trọng trong quá trình chuẩn hóa hệ thống xuất bản học thuật nước nhà, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về chất lượng nghiên cứu, phản biện và các chuẩn mực công bố khoa học hiện đại.
Viện Chính sách, Pháp luật và Quản lý khẳng định vị thế là một tổ chức khoa học uy tín
Trong bối cảnh đất nước đang đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hoàn thiện thể chế phát triển và thúc đẩy đổi mới sáng tạo, hoạt động nghiên cứu khoa học về chính sách, pháp luật và khoa học quản lý ngày càng giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp luận cứ khoa học phục vụ quá trình hoạch định chủ trương, chính sách, cũng như hoàn thiện hệ thống pháp luật.
Đắk Lắk: Mở ra không gian phát triển, nhiều tiềm năng cho đội ngũ trí thức khoa học
Việc hợp nhất tỉnh Đắk Lắk và Phú Yên đã mở ra không gian phát triển mới với nhiều tiềm năng về kinh tế, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Trong bối cảnh khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực quan trọng của tăng trưởng, phát huy vai trò đội ngũ trí thức KH&CN là yêu cầu cấp thiết, tạo nền tảng cho sự phát triển nhanh, bền vững của tỉnh Đắk Lắk.
Nghị quyết 57/NQ-TW: Đột phá là đời sống của người dân được cải thiện rõ rệt hơn
Mọi hệ thống số, cơ sở dữ liệu và nền tảng số phải được thiết kế theo yêu cầu an toàn, an ninh ngay từ đầu; coi đào tạo kỹ năng số, năng lực đổi mới sáng tạo và ứng dụng AI là nhiệm vụ lâu dài. Khi những điều đó được thực hiện đồng bộ, Nghị quyết 57/NQ-TW sẽ tạo nền tảng quan trọng để Việt Nam bứt phá.
Thanh Hoá: Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 2026
Ngày 10/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Thanh Hóa (Liên hiệp hội) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành mở rộng lần thứ VII, khoá VII, nhiệm kỳ 2024 - 2029; sơ kết 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026.
Lâm Đồng: Kết nối sức mạnh - Khơi thông nguồn lực phát triển năng lượng tái tạo
Chiều ngày 09/7, tại Đà Lạt, Hiệp hội Điện gió và Mặt trời tỉnh Lâm Đồng (Hội thành viên Liên hiệp Hội) tổ chức Hội nghị thường niên năm 2026 nhằm đánh giá kết quả hoạt động năm 2025 và 6 tháng đầu năm 2026, đồng thời đề ra phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm cho 6 tháng cuối năm.
Liên hiệp Hội tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Trị tăng cường trao đổi kinh nghiệm
Chiều ngày 09/7, Đoàn công tác Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (LHH) tỉnh Quảng Trị do Tiến sĩ Trần Văn Tuân – Chủ tịch Liên hiệp Hội làm Trưởng đoàn đã có buổi thăm, làm việc và trao đổi kinh nghiệm tại LHH tỉnh Hà Tĩnh. Tiếp và làm việc với đoàn có Tiến sĩ Bùi Khắc Bằng – Chủ tịch LHH tỉnh Hà Tĩnh cùng đại diện các ban chuyên môn.
Đắk Lắk: Liên hiệp hội sơ kết công tác 6 tháng đầu năm
Chiều ngày 09/7, Liên hiệp hội tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) nhằm sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và triển khai phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026; đồng thời cho ý kiến đối với các nội dung chuẩn bị Đại hội Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031.