Chất độc da cam
Đây là một hỗn hợp có màu hồng sản xuất từ một loại dioxin rất độc. Quân đội Hoa Kỳ đã chọn loại dioxin độc hại nhất, tên là 2, 3, 7, 8 tetrachloro benzo paradioxin, để sử dụng trong chiến tranh.
Ngày 11 - 5 - 1961, trong một buổi họp Hội đồng An ninh quốc gia, Tổng thống Kennedy đã cho phép thí điểm chất làm rụng lá cây ở Việt Nam, trong chiến dịch Hadès (Hadès là thần Địa ngục trong truyện cổ Hy Lạp). Mục đích là phá huỷ rừng rậm, để không che giấu được việc chuyển quân và vũ khí từ Bắc vào Nam .
Qua thí điểm, lầu Năm góc xác định hiệu quả của chất độc màu da cam và quyết định sử dụng chất này vào các mục đích quân sự, với liều lượng dioxin cao gấp 20 - 40 lần hơn liều lượng cần để diệt cỏ trong nông nghiệp.
Các chiến dịch đầu tiên phun rải chất độc da cam đã tỏ ra có kết quả rõ rệt nên Tổng thống Kennedy đã cho phép khởi động chiến dịch Ranch Hand nhằm biến Việt Nam thành đất hoang, không cây cối, làm mọi mầm sống đều bị diệt. Các công ty Mỹ như Dow Chemical, Monsanto, Ansul, Diamond Alkali... đã ký hợp đồng cung cấp cho lầu Năm góc chất độc da cam này trị giá hàng chục triệu USD.
Từ năm 1965 - 1968, chất độc đã được các phi cơ C123 có trữ lượng 3.000 lít phun ra ở miền Bắc và miền Nam, dọc theo dải Trường Sơn, trên đường mòn Hồ Chí Minh, cũng như ở nhiều vùng đồng bằng ở Việt Nam. Theo ý kiến của Đô đốc hải quân Zumwalt, không lực Hoa Kỳ còn rải chất độc da cam dọc theo các con sông để bảo vệ các tàu tuần tra Mỹ, tránh các cuộc phục kích của quân dân ta.
Năm 1965, dư luận rất bất bình về việc sử dụng dioxin ở Việt Nam .
Vào tháng 9 - 1965, nhiều nhà khoa học trong đó có 7 giải Nobel, đã gửi một thông điệp đến Tổng thống Johnson yêu cầu chấm dứt hành động vô nhân đạo này. Nhưng chính quyền Mỹ phủ nhận các độc hại đã được nêu ra. Một đại diện lầu Năm góc, trên tờ Washington Post vào tháng 8 - 1968, còn cho biết: “Chất da cam không phải là một chất độc, nó không độc hơn aspirin”, mặc dù Viện Quốc gia Nghiên cứu về ung thư (Hoa Kỳ), ngay từ 1965, đã xác định dị tật bẩm sinh ở chuột.
Vào đầu năm 1970, Thượng nghị sĩ Gaylord Nelson yêu cầu chấm dứt sử dụng chất da cam. Tại Thượng viện, ông phát biểu: “Với chất độc da cam, Hoa Kỳ đã sử dụng một quả bom nổ chậm”.
Vào tháng 4 - 1970, chính quyền Mỹ quyết định cấm sử dụng dioxin trong nông nghiệp, nhưng vẫn tiếp tục rải các hoá chất này trên đất Việt Nam cho đến 1971.
Mãi đến 1975, sau khi Việt Nam được thống nhất, Mỹ mới ký hiệp ước Genève “ngăn cấm sử dụng các chất độc hại, các chất này gây ngạt và các chất tương tự”.
Quả bom nổ chậm mà Thượng nghị sĩ Nelson đã cảnh báo bắt đầu gây tác hại. Ngay từ 1979, chính các cựu chiến binh Mỹ - những người có mặt tại cuộc chiến ở Việt Nam - đã lên tiếng buộc chính phủ Mỹ phải chịu trách nhiệm về các bệnh mà họ phải gánh do chất độc da cam mà chính Mỹ đã rải, như rối loạn nội tiết tố, bệnh da liễu, ung thư...
Cũng năm 1979, họ đã tố cáo các nhà sản xuất dioxin và đã đệ đơn kiện. Ngày 7 - 5 - 1984, toà án liên bang New York và thẩm phán Weinstein yêu cầu các cựu chiến binh ngưng khiếu nại và hoà giải. Các nhà sản xuất dioxin phải dự trù một quỹ bồi thường197 triệu USD. Trong danh sách những người được bồi thường, có gia đình đô đốc Zumwalt, người đã đề xướng đổ dioxin dọc theo các bờ sông ở đồng bằng sông Cửu Long. Elmo Zumwalt, con của đô đốc, có một thời làm hạm trưởng một chiếc tàu tuần tra ở vùng này. Sau khi về Mỹ, cưới vợ và sinh một con trai, nhưng đứa con bị bệnh tâm thần. Elmo cũng phải chịu đựng hai bệnh ung thư và qua đời vào năm 1988. Trước thảm hoạ của gia đình, đô đốc Zumwalt, yêu cầu Thượng viện nghiên cứu sâu hơn về tác hại của chất độc da cam.
Theo ông, Hoà giải 1984 là không thoả đáng, theo báo cáo của Bộ cựu chiến binh Mỹ, phơi nhiễm dioxin là nguyên nhân của nhiều bệnh gây chết người.
Vào tháng 2 - 1991, Thượng viện Hoa Kỳ yêu cầu Viện Khoa học phổ biến danh sách các bệnh gây ra bởi dioxin và cập nhập hoá danh sách các bệnh này mỗi năm.
Vào 2005, “dioxin Act” đã đưa ra một loạt 20 bệnh trong đó có: bệnh bạch cầu tuỷ bào, sarcom, bệnh Hodgkin (ung thư hạch), ung thư tiền liệt tuyến, ung thư đường hô hấp, nứt cột sống (spina bifida...)
Như vậy, trong cuộc chiến tranh tàn khốc mà Mỹ đã tiến hành ở Việt Nam, quân đội Mỹ đã rải chất độc da cam trên 2,5 triệu ha tương ứng với 8,5% diện tích ở Việt Nam .
Theo dự đoán từ 2,1 đến 4,8 triệu người Việt Nam bị phơi nhiễm dioxin.
200.000 trẻ em sinh ra với dị tật bẩm sinh và tàn tật.
Hậu quả của chiến dịch Ranch Hand và sự huỷ diệt của thảm thực vật tại nhiều vùng ở Việt Nam . Di hại khủng khiếp nhất là những bào thai quái dị được sinh ra từ những bà mẹ bị nhiễm chất độc. Trong một căn phòng khoá trái của bệnh viện Phụ sản Từ Dũ (TP HCM), những chiếc bình 10 lít đựng các quái thai, thai non bị sẩy là những minh chứng hùng hồn nhất về tội ác vô nhân đạo chống lại con người.
Hàng vạn trẻ còn sống với những dị tật bẩm sinh, như mất tay, chân, mắt, hậu môn, hở hàm ếch, tay chân teo tóp, cột sống vẹo vọ, bại liệt toàn thân do dị tật nứt đốt sống.
Sự huỷ diệt càng nặng nề nếu xét về khía cạnh môi trường. Đây là một thảm hoạ môi trường. Dioxin có thể tồn tại trong đất cả 100 năm. Để loại trừ dioxin, phải nung đất ô nhiễm đến 1.000 0C. Giáo sư Schecker đã ghi nhận ở nhiều nơi trên vùng đất bị rải chất độc da cam, hàm lượng dioxin cao hơn 400 lần mức quy định của cơ quan bảo vệ môi trường Hoa Kỳ.
Nhất định các nhà sản xuất dioxin như Dow Chemical, Monsanto phải bồi thường về những thiệt hại vật chất và tinh thần mà họ đã gây ra đối với hai triệu người Việt Nam , nạn nhân chất độc da cam, hiện đã đưa đơn kiện từ hai ba năm nay. Những người có trách nhiệm cũng không thể làm ngơ trước vấn đề xã hội to lớn này.








