Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 10/09/2010 18:43 (GMT+7)

Chăn nuôi đối với biến đổi khí hậu và ô nhiễm không khí (tiếp)

Người ta ước tính, đến giữa những năm 1990, lượng khí NH3 bốc hơi mất mát do sử dụng phân đạm hàng năm lên đến 11 triệu tấn N. Trong số này 0,27 triệu tấn bắt nguồn từ phân đạm bón cho đồng cỏ, 8,7 triệu tấn bắt nguồn từ phân đạm bón cho cây trồng dựa vào nước mưa và 2,3 triệu tấn bắt nguồn từ phân đạm bón cho lúa nước (FAO/IFA, 2001). Phần lớn tình hình trên xảy ra ở các nước đang phát triển (8,6 triệu tấn N), khoảng một nửa nằm ở Trung Quốc. Tỷ lệ mất mát N bình quân từ phân đạm dưới dạng NH3 ở các nước đang phát triển (18%) cao hơn các nước đã phát triển (7%) 2 lần. Có sự khác biệt về tỷ lệ mất mát này vì nhiệt độ cao và vì ở các nước đang phát triển phổ biến dùng phân ure và bicarbonatamon.

Ở các nước đang phát triển trong tổng số phân đạm sử dụng, ure chiếm khoảng 50% (FAO/IFA, 2001). Bouwman và những người khác (1997) ước tính, tỷ lệ mất mát do NH3 bốc hơi của ure là 25% ở vùng nhiệt đới và 15% ở vùng ôn đới. Ở Trung Quốc 40 – 50% phân đạm sử dụng ở dạng bicarbonatamon, loại phân này tỷ lệ bốc hơi cao. Tỷ lệ NH3 bốc hơi của bicarbonatamon ở vùng nhiệt đới bình quân 30%, còn ở vùng ôn đới bình quân 20%. Trái lại, ở Mỹ phổ biến dùng amoniac khan để phun, tỷ lệ mất NH3 chỉ 4% (Bouwman và những người khác, 1997).

Phần phát thải trực tiếp từ phân bón sử dụng, ngành chăn nuôi phải gánh chịu tỷ lệ bao nhiêu? Như chúng ta đã biết, một phần khá lớn sản lượng cây trồng của thế giới dùng làm tức ăn gia súc và phân hóa học phần lớn dùng để bón cho những diện tích cây trồng nói trên. Đồng cỏ thâm canh cũng nhận được một lượng phân hóa học đáng kể. Chúng tôi ước tính từ 20% đến 25% phân bón hóa học được sử dụng trong lĩnh vực sản xuất thức ăn gia súc (khoảng 20% triệu tấn N). Nếu lấy mức thất thoát thấp của một vùng nước dùng phân đạm cho thức ăn gia súc quan trọng như Mỹ đề bù cho mức thất thoát bình quân của phân đạm hóa học dưới dạng NH3 bay hơi là 14%. Dựa trên cơ sở tính toán này ngành chăn nuôi phải chịu trách nhiệm về 3,1 triệu tấn NH3-N hàng năm do NH3 bốc hơi từ lượng phân đạm mà ngành đã sử dụng.

Bây giờ chuyển sang việc phát thải N2O, mức phát thải N2O từ phân đạm hóa học phụ thuộc vào thời điểm và cách sử dụng phân. Theo mô hình tính toán của FAO (FAO/IFA, 2001) thì lượng phát thải N2O của phân đạm là 1,25 ± 1%. Lượng phát thải này tính bình quân chung cho các loại phân đạm. Theo kết quả tính toán của FAO/IFA thì lượng thất thoát N2O – N là 1%. Cũng với cách đánh giá như đối với NH3 nêu ở trên, ngành chăn nuôi gánh phần trách nhiệm về 0,2 triệu tấn N2O – N hàng năm của lượng phân đạm hóa học mà ngành đã sử dụng.

Chúng ta còn phải tính đến thêm phần N2O phát thải của cây cỏ họ đậu rằng chúng không được bón phân đạm và vi khuẩn nốt sần của chúng cố định được N. Các công trình nghiên cứu cho biết cây cỏ họ đậu cũng phát thải N2O ở mức tương đương như các cây trồng khác khi chúng được bón phân đạm. 75 triệu ha đậu tương và củ cải của ngành chăn nuôi thế giới hàng năm phát thải 0,2 triệu tấn N2O – N. Tuy không có số liệu về cỏ mục túc và cỏ 3 lá của thế giới, nhưng diện tích 2 loại cỏ này có thể gấp đôi diện tích đậu tương và củ cải nói trên. Theo kết quả nghiên cứu ở lưu vực sông Missisippi, cỏ họ đậu cố định đạm nhiều gấp đôi đậu tương. Vậy, lượng N2O phát thải hàng năm từ đất trồng cỏ họ đậu là trên 0,5 triệu tấn. Như vậy, tổng lượng phát thải N2O – N xuất phát từ sản xuất thức ăn gia súc là 0,7 triệu tấn/ năm.

Lãng phí nito trong chăn nuôi

Do tính chất cố hữu của súc vật nên hiệu suất hấp thu N trong các sản phẩm chăn nuôi thấp, kết quả là, trong mọi trường hợp tỷ lệ lãng phí N của chăn nuôi đều cao.

N thâm nhập chăn nuôi thông qua thức ăn của chúng. Trong 1 kg chất khô thức ăn gia súc từ 10 đến 40 gam N. Các tính toán khác nhau đều cho thấy hiệu suất sử dụng N trong thức ăn củ gia súc thấp. Smit (1999) ước tính đến giữa những năm 1990 toàn bộ các loài gia súc đã bài tiết ra 75 triệu tấn N. Van der Hoen (1998) ước tính, năm 1994, hàm lượng N trong toàn bộ sản phẩm chăn nuôi của thế giới là 12 triệu tấn. Những bức tranh này cho thấy hiệu quả hấp thu cơ bản chỉ khoảng 14%. Khi xem xét riêng ngành chăn nuôi gia công sản phẩm, Smil (2002) cũng tính ra hiệu suất bình quân nằm ở mức 15% (từ 33 triệu tấn N trong các nguồn thức ăn đã sử dụng sản xuất ra được 5 tấn N trong sản phẩm chăn nuôi). NRC (2003) đã ước tính ở Mỹ, hiệu suất hấp thu N của ngành chăn nuôi cũng chỉ ở mức 15%. Theo LPCC (Ủy ban Liên Chính phủ về biến đổi khí hậu, 1977), tỷ lệ lưu giữ N của thức ăn gia súc trong các sản phẩm chăn nuôi như thịt, trứng, sữa, bông, len, nhìn chung dao động từ 5 đến 20%.

Hiệu suất giữa các loài vật và các sản phẩm cũng có sự khác nhau lớn. Theo tính toán của Van der Hoen (1998), trên toàn cầu, hiệu suất sử dụng N của lợn là 20% và của gà là 34%. Ở Mỹ, Smil (2002) tính ra hiệu suất chuyển hóa protein thức ăn của bò sữa là 40%, trong lúc đó ở bò thị chỉ có 5%. Hiệu suất sử dụng N thấp của trâu bò trên quy mô toàn cầu vì tính cố hữu của chúng, chúng là loại động vật có chu kỳ mang thai dài và mức trao đổi cơ bản cao. Nhưng, trong số đàn trâu bò của thế giới còn có một quần thể khá lớn là trâu bò cày kéo, nhiệm vụ chính của chúng là cung cấp sức kéo chứ không phải protein. Ví dụ, trong thập kỷ vừa qua, 25% sức kéo trong nông nghiệp Trung Quốc do ngựa và trâu bò đảm nhiệm (Meggie và Yi, 1996). Ngoài ra ở nhiều nơi trên thế giới, súc vật chăn thả tự do chỉ được ăn đủ mức duy trì, có tiêu thụ nhưng không có sản phẩm.

Kết quả cuối cùng là thông qua chất thải gia súc, một lượng N khổng lồ quay trở lại môi trường. Nhưng không phải loại N bài tiết này bị lãng phí. Khi chất thải gia súc được sử dụng làm phân hữu cơ hoặc trực tiếp thải ra đồng cỏ hoặc đồng ruộng, một phần N phản ứng hội nhập trở lại vào chu trình sản xuất của cây trồng. Điều này đặc biệt đối với súc vật nhai lại.

Do việc thất thoát N qua chất thải gia súc, mà trong loại chất thải này lại có hàm lượng N cao và cấu trúc hóa học thích hợp kích thích thất thoát nên đã làm xuất hiện một lượng đáng kể khí nhà kính phát thải vào khí quyển. Đối với cừu và bò, cứ 1 kg vật chất khô tiêu thụ, chúng đào thải qua phân 8g N. (Barron và Lambourme, 1962). Phần N còn lại bài tiết qua nước tiểu, hàm lượng N trong khẩu phần tăng thì hàm lượng N trong nước tiểu cũng tăng theo. Trong các hệ thống chăn nuôi cho vật nuôi sử dụng khẩu phần protein cao thì hơn ½ N khẩu phần sẽ bài tiết qua nước tiểu.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Thủ tướng Lê Minh Hưng lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Philippines
Nhận lời mời của Tổng thống nước Cộng hòa Philippines Ferdinand Romualdez Marcos Jr, Chủ tịch ASEAN năm 2026, ngày 7/5, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Minh Hưng dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Cebu, Philippines từ ngày 7 đến 8/5/2026.
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.