Chăm sóc và điều trị HIV /AIDS tại Việt Nam: Thành công và thách thức
Việc chăm sóc, điều trị (gồm cả điều trị ARV) sẽ giúp bệnh nhân AIDS kéo dài cuộc sống, giảm chi phí các dịch vụ sức khoẻ. Đây cũng chính là thúc đẩy dự phòng lây nhiễm HIV trong cộng đồng. Tuy nhiên, điều trị ARV rất phức tạp, bệnh nhân AIDS cần phải uống thuốc đầy đủ và đúng giờ ít nhất 95% (tuân thủ điều trị )để đảm bảo hiệu quả điều trị, tránh kháng thuốc. Đặc biệt điều trị ARV phải theo dõi tác dụng phụ, thay thuốc, chuyển phác đồ, điều trị và phục hồi miễn dịch …Do những đặc điểm như vậy mà việc chăm sóc, hỗ trợ và điều trị bệnh nhân AIDS phải toàn diện bao gồm quản lý lâm sàng, tư vấn, hố trợ tâm lý xã hội, chăm sóc giai đoạn cuối đời cũng như dự phòng lây nhiễm HIV.
Công tác điều trị HIV/ AIDS trong thời gian qua mặc dù gặp phải những khó khăn, trở ngại, nhưng cũng đã đạt được những thành tựu đáng chú ý.
Công tác quản lý, chỉ đạo, tổ chức thực hiện chăm sóc và điều trị đã được quy định rất cụ thể trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật cũng như chiến lược quốc gia phòng, chống HIV/ AIDS đến năm 2010 và Tầm nhìn 2020 với các mục tiêu cụ thể: Đảm bảo chăm sóc và điều trị, tư vấn thích hợp cho 90% người lớn nhiễm HIV/AIDS, 100% phụ nữ có thai nhiễm HIV, 100% trẻ em nhiễm HIV và trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV…
Tại các địa phương đã triển khai các hoạt động về chăm sóc và điều trị nội trú, ngoại trú, đặc biệt tại 40 tỉnh, thành phố có sự hỗ trợ của dự án Life – Gap đã thiết lập các phòng khám ngoại trú, tư vấn và xét nghiệm tự nguyện, dự phòng lây truyền từ mẹ sang con … Bên cạnh đó, dự án Quỹ Toàn cầu đã tập trung vào việc nâng cao năng lực chuyên môn cho cán bộ tuyến huyện để hỗ trợ, giúp đỡ và điều trị bệnh nhân AIDS được lâu dài.
Nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, chúng ta đã tổ chức nhiều lớp tập huấn cho nhân viên y tế tham gia công tác chăm sóc và điều trị người có HIV/AIDS. Đặc biệt có sự giúp đỡ của Life – Gap, Quỹ Toàn cầu …Bên cạnh đó, Bộ Y tế đã có hướng dẫn quốc gia về chẩn đoán và điều trị HIV/AIDS đã được sửa đổi, bổ sung và ban hành tháng 3/2005 để đáp ứng nhu cầu chuyên môn. đảm bảo công tác chăm sóc và điều trị.
Cùng những thành tựu đã đạt được vẫn còn một số vấn đề hạn chế cần khắc phục. Bộ máy tổ chức, chăm sóc và điều trị HIV/AIDS đã được thành lập nhưng không ổn định, thiếu đồng nhất, đội ngũ cán bộ thiếu, trình độ chuyên môn hạn chế. Hệ thống y tế tuyến huyện chưa đủ điều kiện sẵn sàng tiếp nhận, chăm sóc và điều trị lâu dài cho người nhiễm HIV/AIDS. Chế độ chính sách cho cán bộ trực tiếp chăm sóc và điều trị HIV/AIDS còn nhiều bất cập. Trong khi đó đa số bệnh nhân là người nghèo, một số không nơi nương tựa, chế độ bảo hiểm y tế, viện phí còn nhiều hạn chế cũng làm giảm sự tiếp cận các dịch vụ y tế.
Trong công tác chuyên môn, nghiệp vụ vẫn còn thiếu trầm trọng dịch vụ chăm sóc và điều trị, đặc biệt là ở tuyến huyện, do đó ảnh hưởng đến hiệu quả chăm sóc và điều trị, đặc biệt ảnh hưởng đến tuân thủ phác đồ điều trị ARV.
Dich vụ y tế tuyến trung ương quá tải, hệ thống thu dung bệnh nhân phân tuyến hoạt động, cơ chế chuyển tiếp phối hợp giữa các chuyên khoa, đặc biệt giữa chương trình lao và HIV chưa rõ ràng. Các hướng dẫn thực hiện cấp quốc gia chưa được phát triển đẩy đủ nên ở nhiều nơi còn lúng túng khi triển khai, hoạt động đào tạo chưa có sự điều phối hợp lý.
Việc xã hội hoá công tác phòng, chống HIV/AIDS, đặc biệt la chăm sóc và điều trị còn hạn chế do sự tham gia của các ban, ngành, đoàn thể và các tổ chức xã hội chưa có sự phối hợp hiệu quả với y tế để thực hiện chăm sóc và điều trị toàn diện cho người có HIV. Các dịch vụ hỗ trợ việclàm, chăm sóc trẻ em nhiễm HIV bị bỏ rơi, trẻ em mồ côi còn rất thiếu.
Đa số người nhiễm HIV sống trong các trung tâm cai nghiện, trại tạm giam và trại giam. Những hoạt động chăm sóc và điều trị tại đây còn nhiều khó khăn. Sự phối hợp giữa cơ sở y tế và các trung tâm còn hạn chế, chưa có cơ chế rõ ràng về dịch vụ chuyển tiếp cho người nhiễm HIV sau khi ra khỏi trại để tiếp cận với các dịch vụ y tế.
Vấn đề phân biệt kỳ thị đôi xử với người nhiễm HIV vẫn còn tồn tại ở một số cơ sở y tế. Điều đó làm cho người có HIV (NCH) thiếu tin tưởng vào các dịch vụ y tế, họ không dám công khai tình trạng nhiễm HIV và không tiếp cận với cấc dịch vụ y tế. Sự tham gia của người nhiễm HIV trong hoạt động chăm sóc và điều trị là rất hạn chế. Tại một số nơi đã thành lập các nhóm bạn giúp bạn, nhưng số lượng còn rất ít ỏi so với danh sách phất hiện. Sự quan tâm và hỗ trợ của các ban, ngành, tổ chức xã hội cho hoạt động của người nhiễm HIV chưa nhiều.
Hiện tại, chúng ta có nhiều nguồn thuốc ARV khác nhau. Tuy nhiên việc điều phối và quản lý thuốc, hệ thống theo dõi và báo cáo việc điều trị ARV còn chưa cụ thể, đặc biệt là hệ thống cung ứng thuốc đảm bảo tránh hết thuốc dự trữ.
Một vấn đề nữa cũng hết sức quan trọng là hệ thống theo dõi, báo cáo của chương trình chăm sóc và điều trị xây dựng những chỉ số. Tuy nhiên, các chỉ số biểu mẫu báo cáo điều trị ARV chưa được thống nhất ở cấp quốc gia.
Chính vì những bất cập trên, mà trong thời gian tới, công tác chăm sóc, điều trị bệnh nhân AIDS cần phải được đổi mới để đáp ứng tình hình người nhiễm HIV ngày một gia tăng. Trên cơ sở Chiến lược quốc gia phòng chống HIV/AIDS đến năm 2010 và tầm nhìn 2020, sẽ xây dựng Hướng dẫn quốc gia về thực hiện chăm sóc, điều trị HIV/AIDS gồm: củng cố mạng lưới chăm sóc và điều trị HIV từ trung ương đến địa phương, phát triển hệ thống chăm sóc, hỗ trợ toàn diện tại tuyến huyện nhằm tăng cường khả năng tiếp cận với các dịch vụ cho người nhiễm HIV; tăng cường các hoạt động dịch vụ sức khoẻ tại cộng đồng với sự tham gia của NCH và sự phối hợp các ban, ngành, đoàn thể và cấc tổ chức xã hội.
Bên cạnh đó, một loạt các kế hoạch sẽ phải được thực hiện trong thời gian tới như: xây dựng, sửa đổi, bổ sung các chế độ chính sách phù hợp về chăm sóc người nhiễm HIV tại các cơ sở y tế; cung cấp trang thiết bị, sinh phẩm và thuốc thiết yếu phục vụ chăm sóc và điều trị HIV; mở rộng điêu trị ARV lồng ghép vào hoạt động chăm sóc liên tục: bắt đầu điều trị tại tuyến trung ương và tuyến tỉnh thành phố, nhanh chóng mở rộng đến tuyến huyện để nhiều bệnh nhân được tiếp cận điều trị và đảm bảo hỗ trợ tuân thủ điều trị; phối hợp lồng ghép các dịch vụ khác như: phòng chống lao, chương trình dự phòng lây nhiễm từ mẹ sang con, giảm thiểu tác hại, trung tâm 05/06, y tế tư nhân… xây dựng chương trình đào tạo chuẩn quốc gia nhằm nâng cao năng lực chăm sóc và điều trị cho cán bộ tham gia vào hoạt động chăm sóc và điều trị HIV; xây dựng và sửa đổi hướng dẫn về chẩn đoán, điều trị cho trẻ em, lao/HIV,… Xây dựng hệ thống cung ứng thuốc ARV và quản lý thuốc cấp quốc gia để tăng cường số lượng bệnh nhân được điều trị ARV và đảm bảo điều trị lâu dài; xây dựng hệ thống theo dõi, báo cáo chăm sóc và điều trị HIV dựa trên Hướng dẫn toàn cầu; tăng cường các hoạt động hợp tác quốc tế trong lĩnh vực đào tạo, nhân rộng các mô hình chăm sóc và điều trị toàn diện, thực hiện nghiên cứu khoa học….








