Chăm sóc giảm nhẹ - Một lĩnh vực mới mẻ và thiết thực
PV:Xin bà cho biết vì sao SOV lại thực hiện dự án này tại Việt Nam ?
Bà Margaret:Cho đến nay, bên cạnh các bệnh truyền nhiễm khác còn hoành hành thì bệnh ung thư cũng đang trở thành một trong những gánh nặng bệnh tật ở Việt Nam . Hằng năm có tới 150.000 người được chẩn đoán mắc phải ung thư. Rất nhiều người trong số họ không có khả năng chi trả các liệu pháp điều trị tốn kém. Vì thế nhiều bệnh nhân chọn giải pháp dành những ngày ngắn ngủi còn lại bên gia đình, người thân, chịu đựng những đau đớn cả về thể xác lẫn tinh thần mà không có một bất kỳ liệu pháp điều trị nào.
Dự án này là sự quan tâm và cam kết của SIP đối với các bệnh nhân có nhu cầu được chăm sóc giảm nhẹ như HIV/AIDS và ung thư ở Việt Nam . Quỹ bia rượu châu Á - Thái Bình Dương và Mạng lưới chăm sóc giảm nhẹ khu vực châu Á - Thái Bình Dương đã nỗ lực giúp đỡ chúng tôi thực hiện dự án này. Ai trong số chúng ta từng bị mất đi người thân vì bệnh hiểm nghèo sẽ chứng thực được nỗi đau khôn cùng về thể xác và tinh thần mà người bệnh trải qua trước diễn biến phức tạp của bệnh tật và cuối cùng là cái chết. Để giảm bớt đau đớn, giúp cho người bệnh và gia đình họ vượt qua khó khăn này một cách tốt nhất là mục đích mà dự án mong muốn đạt được. Chăm sóc giảm nhẹ còn là những biện pháp giảm nhẹ những biến chứng nặng cho bệnh nhân ung thư, đó là tình trạng di căn, loét, liệt... Những kỹ năng chăm sóc giảm nhẹ cho những bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối còn thể hiện lòng yêu thương của con người và giá trị của một nền y tế nhân văn.
PV:Thưa bà, thời gian qua, Chương trình đào tạo các nhân viên y tế chăm sóc giảm nhẹ bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối ở Việt Nam tiến hành như thế nào?
Bà Margaret:Chúng tôi bắt đầu dự án này tại Việt Nam từ tháng 4/2005 tại hai địa điểm là Bệnh viện K Hà Nội và Bệnh viện Chợ Rẫy- TP. Hồ Chí Minh. Đây là 2 cơ sở lớn nhất ở Việt Nam điều trị cho các bệnh nhân ung thư, ở miền Trung chưa có đủ điều kiện xây dựng các trung tâm thực hành và đào tạo cho lĩnh vực này nhưng họ cũng cử nhân viên y tế tới đây để học. Chúng tôi đã cử 22 chuyên gia sang đây đào tạo cho 90 bác sĩ và y tá với khoảng 2.600 giờ học. Trong suốt thời gian qua, chúng tôi dành nhiều thời gian thực hành hướng dẫn các học viên ngay tại giường bệnh, đồng thời tổ chức các buổi thảo luận theo nhóm nhỏ. Các học viên phải học cách lắng nghe bệnh nhân kể về tiền sử đau của họ và biết cách đánh giá mức độ đau để có được biện pháp giúp đỡ họ giảm đau tốt hơn. Đối với người nhà bệnh nhân thì hướng dẫn họ cách chăm sóc người bệnh, giải thích tác dụng của các loại thuốc cần sử dụng và tác dụng phụ của chúng.
Không chỉ chăm sóc cho bệnh nhân mà chúng tôi còn giúp học viên biết cách liên kết các bác sĩ ở nhiều bộ phận khác nhau trong bệnh viện để điều trị cho người bệnh tốt nhất.
Việc sử dụng thuốc giảm đau ở những bệnh nhân này là rất quan trọng, nhưng các loại thuốc giảm đau như morphin sản xuất ở Việt Nam chưa có nguồn cung cấp ổn định. Bên cạnh đó các thuốc này thường có liều lượng cao nên khi dùng bệnh nhân phải pha chế, các học viên hướng dẫn cho bệnh nhân và người nhà biết cách pha phù hợp và sử dụng đúng lúc.
PV:Theo bà, hiệu quả của khóa học sẽ ảnh hưởng như thế nào đến lĩnh vực rất mới mẻ này ở Việt Nam ?
Bà Margaret:Tất cả các bác sĩ, y tá đầu viên của khóa học đều có thái độ học tập nhiệt tình và tiếp thu tốt những kỹ năng chăm sóc giảm nhẹ, vì thế chúng tôi tin là các bạn sẽ đạt được rất nhiều điều như có được bảng đánh giá đúng về nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ, hình thành được hướng dẫn quốc gia về lĩnh vực này. Những học viên của khóa học sẽ trở thành những giảng viên về đào tạo chăm sóc giảm nhẹ ở tầm quốc gia. Chỉ trong một thời gian không lâu nhưng qua những người bệnh cụ thể, chúng tôi nhận ra những thay đổi lớn đối với chất lượng cuộc sống của người bệnh khi có được chăm sóc giảm nhẹ. Hy vọng với những hiệu quả này Việt Namsẽ có được mạng lưới quốc gia về lĩnh vực này, SIP luôn sẵn sàng giúp đỡ Việt Nam trong những điều kiện có thể.
PV:Xin cảm ơn bà!








