Cây Thông & thuốc trường thọ
Gọi là đặc hữu nghĩa là chỉ có ở Việt Nam . Thông 2 lá còn gọi là “Thông hoá thạch sống” vì nó đã sống cùng thời với sinh vật cổ sơ, trước thời đại địa chất thứ 2. Loài đặc hữu còn hiếm, có nguy cơ mất nên đã được vào danh sách đỏ, khoanh vùng cấm để bảo vệ nghiêm ngặt nguồn tài nguyên quý giá này.
Cây Thông làm thức ăn, thuốc trong Đông y
Nhân hạt Thông (Hạt tùng tử) loại Thông 5 lá
Trong nhân hạt Thông khô có nước 2,7%; đạm 15,7%; béo 64,8%; muối vô cơ 2,7%; xơ 4,2%; carbohydrat 8,3%. Do đó người tiêu hoá kém dùng thận trọng.
Đối với người có tuổi, nhân hạt Thông có tác dụng bổ can thận nhuận phế, nhuận tràng, nhuận dưỡng da thịt. Đặc biệt thích hợp người già yếu hư hàn vì không ảnh hưởng xấu tới chính khí (như khi dùng chữa người già bị tiêu chảy).
- Táo bón:Bài tam nhân: nhân hạt Thông, Bá tử nhân, Hoá ma nhân, lượng bằng nhau. Nghiền bột làm viên. Mỗi lần uống khoảng 6g trước bữa ăn.
- Ho lâu ngày, ít đờm (ho hàn):nhân hạt Thông 30g, Hạch đào 60g, nghiền nát thành cao, trộn 15g mật. Mỗi lần 1 thìa uống với nước sôi để ấm. Ngày 2 lần. Nếu dùng thường xuyên còn có tác dụng làm tinh thần sảng khoái, da tươi nhuận hồng hào.
![]() |
| Thông Pinus peuce |
- Người già khó ngủ:Tùng tử, Hạch đào nhục, Đại táo (táo tàu) nấu chè ăn.
Phòng chống hàn khí nơi rừng núi: hạt Tùng tử rang thơm trộn với lương khô mang đi ăn.
- Chống lạnh do thời tiết, do cơ thể có hàn:rang hạt Tùng tử ngâm rượu. Dùng cho phụ nữ sau sinh chân tay bải oải chóng mặt, hoa mắt, buồn nôn khi ngồi dậy. Hạt Tùng tử rang thơm nấu sôi với rượu để uống.
Quả Thông chữa ho
Quả Thông 10g, lá Hẹ 12g, lá Kinh giới 12g thái nhỏ sắc 400ml nước còn 1/3 chia uống 2 lần.
Trong y học dân gian Nhật Bản dùng quả Thông chữa u dạ dày.
Phấn hoa Thông(Tùng hoàng, Tùng hoa phấn)
Bột mịn màu vàng nhạt, nhẹ dễ bay, không chìm trong nước, vị béo, ngọt nhạt, không mùi, tính ấm, có tác dụng bổ dưỡng, trừ phong chữa đau đầu, chóng mặt, sắc uống ngày 4 - 8g.
Dùng ngoài rắc lên vết thương lở loét, mụn nhọt.
Lá Thông(Tùng diệp)
Tắm Tất niên thả lá Thông sạch vào bồn tắm nóng. Chữa cảm cúm đau mình lấy lá Thông nấu xông (10 - 30g).
- Nhức mỏi cơ xương khớp, va đập bầm tím:lá Thông băm nhỏ ngâm rượu để xoa bóp, hoặc ngâm rượu lá Thông với Đương quy để uống.
- Ngứa lở loét:lá Thông, lá Long não, khá Khế, lá Thanh hao lượng bằng nhau nấu nước để tắm rửa.
Đốt mắt Thông(Tùng tiết)
![]() |
| Thông Pinus sylvestris |
Chữa đau nhức răng:Tùng tiết thái nhỏ ngâm rượu càng đặc càng tốt, ngậm nghiêng phía răng đau buốt một lúc rồi nhổ đi. Ngày vài lần.
Vỏ cây Thông
Chữa vết thương lở loét:phối hợp với vỏ cây Sung, lượng bằng nhau, đốt thành than tán mịn rắc lên vết loét.
Rễ cây Thông(tùng căn)
Được dùng để trừ phong hàn thấp gây đau lưng gối, liệt dương.
Nhựa Thông
- Chữa đau nhức sưng tấy:nhựa Thông 40g, nhựa cây Say sau 40g, sáp ong 10g, đun nhỏ lửa khoảng 10 phút. Để nguội, phết lên giấy để gián lên chỗ sưng.
- Chữa nhọt mủ:nhựa Thông vừa đủ với hóng bếp củi, gai Bồ kết, quả Bồ hòn (đốt thành than) lượng bằng nhau, đánh nhuyễn thành dẻo quánh mềm để đắp lên nhọt nung mủ.
Từ nhựa Thông lấy chất terpin làm thuốc ho và được dùng làm thuốc diệt khuẩn đường tiết niệu.
Tinh dầu Thông(phần bay lên qua cất kéo hơi nước của nhựa Thông đã tinh chế)
Dùng để chữa các bệnh ngoài da nhiễm khuẩn do tác dụng tiêu sưng, diệt khuẩn. Phối hợp với cồn long não, salicylat metyl làm thuốc xoa bóp chữa đau nhức.
Tùng hương(phần còn lại sau khi cất nhựa Thông lấy tinh dầu)
Tùng hương cố vị đắng ngọt, mùi thơm, tính ôn. Có tác dụng khu phong diệt khuẩn, sinh cơ, giảm đau, chữa mụn nhọt, ghẻ lở. Dùng riêng hoặc phối hợp với nhiều vị khác (Hoàng liên, Hoàng cầm, Khổ sâm, Sà sàng tử, Đại hoàng, Khô phần…) để đắp lên loại mụn nhọt lâu ngày không khỏi.
- Chữa băng huyết, nôn ra máu:Tùng hương đốt hứng lấy muội khói 10g hoà với 20g da trâu đã đun chảy để uống.
- Chữa hen suyễn:Tùng hương 200g, Tỏi 200g, dầu Vừng 100g, Riềng 100g, Long não 4g. Nấu thành cao dán lên huyệt.
Nấm Thông
Có 2 loại: Phục linh và Phục thần rất quen thuộc trong Đông Y.
Phục linh là nấm mọc trên rễ Thông và Phục thần là nấm mọc chung quanh rễ (rễ Thông là lõi của nấm Phục thần). Chúng là 2 vị thuốc có tính năng công dụng khác nhau.
- Phục linh đi vào thận là chính: Có 3 công dụng chính: lợi thuỷ trừ thấp, ích tỳ trừ tả, trấn tĩnh an thần. Trước nhập từ Trung Quốc, nay đã phát hiện trên Thông Việt Nam .
- Phục thần đi vào tâm là chính:dùng để an thần chữa mất ngủ, lo âu, hồi hộp, kinh sợ dẫn đến nhiều bệnh.
Hợp chất cellulosea
Kết hợp với polime tạo nên vật liệu sinh học đầy tiềm năng được ứng dụng trong ngoại khoa chấn thương vá hộp sọ, cố định xương, tạo đĩa đệm, đốt sống và phẫu thuật thẩm mỹ kéo dài chân cho người muốn tăng chiều cao… Sản phẩm này bền, đẹp và rất rẻ so với sản phẩm hợp kim ngoại nhập. Đặc biệt hơn nữa là đặc tính sinh học của hợp chất thiên nhiên: không độc, kích thích phát triển tế bào mạch máu mới…
Nguồn: Thuốc & Sức khoẻ, số 351, 1 - 3 - 2008, tr 16










