Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 24/05/2010 21:05 (GMT+7)

Cầu Long Biên thời “thai nghén”

Dòng sông Cái (tức sông Hồng nay) cuối thế kỷ 19 được gọi là Nhĩ Hà, theo từ Hán Việt nghĩa là “sông vành tai”, bị đọc chệch đi là Nhị Hà hoặc sông Nhị.

Sông Nhị rộng khoảng 1.700 mét chảy giữa, bờ phải là Hà Nội, bờ trái là Gia Lâm, có bãi cát nổi giữa có tên là Bãi Giữa. Về mùa lũ, bãi nổi bị xói trôi, chuyển chỗ. Việc qua sông của người dân Hà Nội thời ấy rất khó khăn và có khi còn rất nguy hiểm.

Thời kỳ này, con đường sắt khổ rộng 0,60m do Công ty Hoả xa của người Pháp ở Đông Dương và Vân Nam (gọi tắt là Công ty Hoả xa Vân Nam) đứng chủ, được nâng cấp thành khổ rộng 1,00 m từ Phủ Lạng Thương (Bắc Giang) kéo lên tới Lạng Sơn và kéo xuôi về đến Ga Gia Lâm cách trung Hà Nội 3 km.

Đoạn đường sắt Hải Phòng – Gia Lâm cũng đang khẩn trương thi công để tiến tới nối liền tuyến Hải Phòng – Lào Cai qua Hà Nội vào những năm đầu thế kỷ 20 như kế hoạch dự kiến.

Trong hồi ký của Paul Doumer có đoạn viết: “… có một việc mà tính cần thiết của nó đột nhiên xuất hiện nơi tôi: Đó là việc xây dựng một chiếc cầu lớn qua sông Nhị ngay tại Hà Nội. Ý của tôi là cần trang bị cho Bắc Kỳ một hệ thống đường sắt hội tụ vào Hà Nội, nối liền với cửa biển, với miền Nam và Trung Quốc. Không thể nào hình dung được nếu có hai nửa mạng đường sắt bị ngăn cách bởi dòng sông Nhị.

Không nghi ngờ gì nữa về lợi ích của một chiếc cầu ở Hà Nội, nhưng đồng thời cũng thật khó khăn khi tiến hành một công việc như vậy, cũng như phải đối mặt với sự chi tiêu khổng lồ cho việc xây dựng…”.

Việc xây dựng chiếc cầu qua sông Hồng ở Hà Nội hồi ấy gặp phải sự phản đối của khá nhiều người hoài nghi ở Bắc Kỳ (Việt Nam) và ở Paris (thủ đô nước Pháp)

Paul Doumer đã phải nhận không ít lời dèm pha, đại khái như: “Bắc cầu qua sông Hồng ư? Thật là điên rồ! làm sao lại có thể xây một chiếc cầu qua một con sông sâu và rộng như thế”.

Bỏ qua ngoài ta tất cả những lời dèm pha và bất chấp ý kiến của các nhà buôn, các nhà thực dân Pháp và các công chức, Paul Doumer đã quyết định thực hiện dự án của mình là xây dựng một cây cầu dài 1.680 m qua sông Hồng. Những công việc ban đầu đã được thực hiện với ý chí và niềm tin tưởng thành công.

Dự án xây dựng cầu được Toàn quyền Đông Dương thông qua ngày 4 – 6 – 1897. Tháng 11 – 1897 đã tiến hành thủ tục đấu thầu với Công ty tham dự. Mỗi nhà thầu được phép đưa ra 2 dự án gọi là A và B.

Có 2 công ty đưa chào giá thấp là: Dự án A của Công ty Lavalloi Peret với giá 5.387.540,60 f (Frans) và dự án B của Công ty Daydé & Pillé có giá cao hơn so với giá của Công ty Lavalloi Peret là 3.253,40 f.

Sau 15 ngày làm việc, Hội đồng mở thầu đã đề nghị và được Toàn quyền Đông Dương đồng ý ra nghị định chọn: Daydes & Pillé làm nhà thầu chính thức với số tiền cho phép chỉ là 5.900.000 f (sau khi đã sửa đổi thêm một số về kỹ thuật).

Đồ án thiết kế đã được thông qua bao gồm một chiếc cầu thép trên các mố trụ bằng đá xây, khoảng cách giữa hai mố là 1.680m. Cầu bao gồm 19nhịp, có cấu tạo liên kết bằng các dầm thép kiểu “Cantilever”. 18 trụ và 2 mố phải hạ móng xuống độ sâu 30m so với mực nước thấp nhất mùa cạn để đặt trên nền đất cứng và còn phải vươn lên trên mựcnước đó 13,5m. Như vậy, chiều cao tổng cộng của chúng là 43,5m. Khoảng không gian giữa các dầm chủ dành cho đường sắt. Đằng sau mố hữu ngạn cũng như trong thành phố Hà Nội được tiếp nối bởi một dãycầu cạn bằng dầm thép và bằng đá xây kéo dài cầu lên tới 2.500 m.

Đây là một trong những chiếc cầu lớn nhất thế giới, một công trình đồ sộ và lỗi lạc nhất đã được thực hiện ở Viễn Đông cho đến thời kỳ ấy.

Ngày 12 – 9 – 1898 đã diễn ra lễ khởi công cây cầu vĩ đại này với sự tham gia của các quan chức và đông đảo dân chúng quanh vùng. Dự kiến cầu sẽ được hoàn thành sau 5 năm thi công.

Công trường xây dựng cầu phải sử dụng hơn 3.000 công nhân người Việt và khoảng 40 giám đốc, kỹ sư, chuyên gia và đốc công người Pháp để điều hành công việc.

Người ta đã sử dụng vào công trình này hơn 30.000 m3 đá, 6.000 tấn kim loại. Tổng chi phí là 6.000.000 f, không vượt quá dự trù ban đầu là bao.

Trong hồi ký của Paul Doumer có đoạn ghi:

“ Khi tôi đặt viên đá đầu tiên cho chiếc cầu Hà Nội ở mố bờ bên trái (tức đầu cầu phái Gia Lâm – T.G) vào tháng 9 – 1898, dóng thẳng với những cây sào dài mang cờ làm chuẩn để xây dựng trụ cầu, trong số những người Pháp tham dự buổi khởi công có nhiều người vẫn hoài nghi và không hình dung ra được khối lượng công việc khổng lồ cần được thực hiện. Về phía nhà cầm quyền bản xứ, khi được thông báo dự án của chúng tôi, họ cho rằng đó là một ý tưởng hoang đường!

Các quan chức có kiến thức hơn, suy nghĩ mới hơn thì nghi ngờ rằng chúng tôi đã làm một việc liều lĩnh. Cuộc đối thoại đã diễn ra thế này:

- Đó là một sợi dây mà ông sẽ nối từ bờ này sang bờ bên kia để dẫn hướng cho các con tàu ư?

- Không! Đó là một chiếc cầu bằng đá và thép mà chúng tôi sẽ xây dựng qua sông.

- Vậy ư? Ngài không sợ hậu quả xấu và sự thất vọng sẽ gây ra trong dân chúng? - họ hỏi một cách lo âu.

- Chúng tôi sẽ thuyết phục họ, đảm bảo kết quả với họ bằng cách viện dẫn hiệu lực các phương tiện thi công của chúng tôi.

- Thật không thể tin được! - họ la to lên và hạ giọng cho rằng đó thực sự chỉ là một sự liều lĩnh.

- Chỉ đến khi, trong những tháng tiếp theo, trông thấy những chiếc trụ đã vượt khỏi mặt nước, việc lắp các nhịp dầm được băt sđầu, mới có thể thuyết phục được họ…”.

Tôi không kể ra đây những công việc vất vả, nặng nhọc mà hơn 3.000 người thợ và các kỹ sư, chuyên gia đã thực hiện trong 3 mùa cạn và chống đỡ trong 3 mùa lũ lớn kèm theo mưa giông và bão tố… vì các tác giả trước tôi đã viết rất nhiều và khá cụ thể, chi tiết.

Thời ấy, máy móc thiết bị còn thô sơ. Bằng tinh thần dũng cảm quên mình cộng với những đồ nghề có trong tay, công trường cầu này mỗi mùa cạn bình quân đã xây xong 7 khối móng mố hoặc trụ cầu trên vùng cát sụp lở hằng năm.

Những người thợ cầu hồi ấy được Paul Doumer mô tả trong hồi ký như sau:

“ Họ đã lam việc đầu tiên ở ngoài trời, trong các thùng bằng thép chở nổi, tiếp đó là buồng khí nén, trong buồng chìm dưới phần xây. Ở đó, họ đào đất đáy sông để hạ dần giếng chìm làm móng trụ vào trong đất ngày càng nhanh hơn. Nó đã nằm sâu dưới mực nước 20 mét, chọu một áp suất 2 át mốt phe, rồi xuống sâu 25 mét, 30 mét với áp suất khoảng 3 át mốt phe; tiếp tục xuống sâu 31 mét, 32 mét, có chỗ sâu tới 33 mét. Tại đó, sự làm việc cực kỳ khó khăn…”.

Sau 3 năm 9 tháng thi công đầy cực nhọc và hiểm nguy nhưng cũng đầy dũng cảm, hy sinh, cầu qua sông Nhị đã được hợp long ngày 3 – 2 – 1902, biểu hiện tinh thần lao động kiên trì của hơn 3.000 thợ cầu người Việt, một số thợ người Hoa kiều và các kỹ sư, đốc công người Pháp.

Ngoài ra, một số nhà thầu phụ người Việt cũng đã mạnh dạn đấu thầu và trúng thầu một số phần việc phụ trợ công trường mà điển hình là Doanh nhân Bạch Thái Bưởi đã đảm nhận cung ứng các loại vật liệu xây dựng nội địa như: đá, cát, sỏi, tranh, tre, nứa, lá… (Về sau, ông Bạch Thái Bưởi trở thành chủ hãng kinh doanh vận tải bằng tàu thuỷ, cạnh tranh thắng lợi với các hãng của người nước ngoài kinh doanh tàu thuỷ tại Việt Nam ).

Lúc 8 giờ 30 phút ngày 28 tháng 2 – 1902, chuyến xe lửa đặc biệt khởi hành từ ga Hàng Cỏ (ga Hà Nội nay), đưa vua Thành Thái, Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer và đoàn tuỳ tùng đến đầu cầu để làm lễ và cắt băng khánh thành cây cầu lớn nhất Đông Dương thời ấy.

Cây cầu được hoàn thành làm cho dân chúng và quan chức thời đó kinh ngạc như trong diễn văn của viên quan Nguyễn Trọng Hợp có đoạn: “Cây cầu như con rồng xanh bắc ngang dòng nước; như dải cầu vồng đỡ lấy bầu trời, ngắm nhìn mà hoa cả mắt không sao kể xiết được. Từ đây nhân dân qua lại, bách vật thông thương không còn cách xa…”.

Để tỏ lòng cảm ơn ông Paul Doumer về sự quyết tâm trong chủ trương xây dựng, người ta lấy tên ông đặt cho cầu sau khi khánh thành. Nhưng tên ông Toàn quyền không khắc trên thân cầu. Chỉ thấy trên đầu cầu phía Hà Nội có gắn bảng thép đúc dòng chữ “1899 – 1902 Daydé & Pille Paris ”. Đó là tên Công ty được Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định chọn là nhà thầu chính thức ngày 27 – 1 – 1898.

Còn người Hà Nội và cả nước trong hơn một thế kỷ qua vẫn quen gọi là cầu Long Biên.

Vẫn trong hồi ký của Paul Doumer có đoạn:

“ … Ba năm sau khi khởi công, chiếc cầu vĩ đại đã hoàn thành. Nhìn gần phần cấu trúc thật tuyệt diệu. Cảm thấy chiều dài cây cầu dường như vô tận… Nhưng khi nhìn cây cầu từ phía bờ sông, người ta thấy toàn cảnh cây cầu chỉ như một lưới mắt cáo mỏng manh, một dải đăng ten đính lên bầu trời. Tôi đã khánh thành cây cầu Hà Nội - cầu Doumer, tên tôi đó – vào tháng 2 – 1902, cùng một lúc với đoạn đường sắt từ Hà Nội đến Hải Phòng, nối Thủ đô với cửa biển có thể bắt đầu khai thác từ đó. Chuyến tàu đầu tiên của tuyến đường sắt đi từ lòng thành phố, qua cầu và trên đoạn đường sắt hơn 100 cây số đã chính thức khai trương. Và chuyến tàu đó cũng mang tôi trở về Pháp”.

Chuyện của 107 năm về trước mà qua hồi ký của Paul Doumer tôi tưởng như vừa diễn ra chưa lâu, bởi lẽ cây cầu Long Biên vẫn còn đó, sớm chiều vẫn âm vang tiếng còi tàu như chào, như gọi chúng ta.

Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Lào Cai: Thúc đẩy tiếp cận tín dụng xanh trong chuỗi giá trị bảo vệ rừng
Ngày 5/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Lào Cai phối hợp với Trung tâm Phát triển Khoa học Công nghệ và Chăm sóc sức khỏe cộng đồng (YENBAI CDSH) tổ chức Hội thảo “Tài chính vi mô, tín dụng xanh và khả năng tiếp cận vốn của các chủ thể kinh tế quy mô nhỏ trong chuỗi giá trị bảo vệ rừng”.
Lâm Đồng: Hội thảo Giải pháp phát triển kinh tế ban đêm đến năm 2030
Sáng 1/10, tại Trung tâm Hành chính tỉnh Lâm Đồng, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với Trường Đại học Kinh tế - Tài chính TP Hồ Chí Minh tổ chức Hội thảo khoa học về phát triển kinh tế ban đêm tỉnh Lâm Đồng. Với sự tham dự của đại diện lãnh đạo UBND tỉnh, lãnh đạo các sở, ban, ngành, địa phương cùng gần 100 chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý và đại diện cộng đồng doanh nghiệp.
Đắk Lắk: Liên hiệp Hội - Thành viên tích cực của Mặt trận trong giai đoạn mới
Là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk phát huy vai trò tập hợp, đoàn kết đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ, làm cầu nối giữa trí thức với Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Trong giai đoạn mới, Liên hiệp Hội tỉnh tăng cường phối hợp, phát huy nguồn lực trí tuệ, góp phần củng cố khối đại đoàn kết và thúc đẩy Đắk Lắk phát triển bền vững.
Đại hội Liên hiệp Hội thành phố Cần Thơ lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031
Trong hai ngày 01 và 02/10/2026, tại thành phố Cần Thơ, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật TP Cần Thơ đã long trọng tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031. ThS. Bùi Minh Châu, nguyên Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Cần Thơ, được bầu giữ chức Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Cần Thơ nhiệm kỳ 2026-2031, Ban Chấp hành gồm 36 thành viên.
Phó Chủ tịch Liên hiệp Hội Việt Nam tham dự Diễn đàn Vi điện tử Toàn Nga 2026
Từ ngày 27/9 đến 3/10, tại Đại học Khoa học - Công nghệ Sirius, Lãnh thổ Liên bang Sirius, Liên bang Nga, đã diễn ra Diễn đàn Vi điện tử Toàn Nga 2026 - một trong những diễn đàn chuyên ngành lớn của Nga về phát triển vi điện tử, cơ sở linh kiện điện tử và các công nghệ điện tử liên quan.
5 nhà khoa học của Liên hiệp Hội Việt Nam được tôn vinh “Nhà khoa học của Nhà nông” năm 2026
Sáng 2/10/2026, tại Hà Nội, Trung ương Hội Nông dân Việt Nam tổ chức Chương trình tôn vinh “Nhà khoa học của Nhà nông” lần thứ VII và trao giải Cuộc thi “Sáng tạo kỹ thuật Nhà nông” toàn quốc lần thứ XI năm 2026. Trong số 42 cá nhân được tôn vinh năm nay có 5 nhà khoa học do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam giới thiệu.
Thanh Hoá: Kinh tế tuần hoàn, tín chỉ Carbon và mô hình sản xuất không phát thải
Ngày 30/9/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Thanh Hóa (Liên hiệp hội) phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ, Trường Đại học Hồng Đức và Viện Nông nghiệp Thanh Hóa tổ chức Diễn đàn khoa học với chủ đề “Kinh tế tuần hoàn và tín chỉ Carbon - Phương pháp xây dựng mô hình sản xuất không phát thải tại Thanh Hóa”.
Đắk Lắk: Phát huy nguồn lực trí thức, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo tỉnh
Trong giai đoạn 2026-2030, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo (ĐMST) là yêu cầu quan trọng để Đắk Lắk khai thác tốt hơn tiềm năng, lợi thế và các nguồn lực cho phát triển. Cùng với KHCN và CĐS, ĐMST cần được nhìn nhận không chỉ là hoạt động của các viện, trường hay doanh nghiệp công nghệ, mà là một phương thức tổ chức nguồn lực để giải quyết những bài toán phát triển cụ thể của địa phương.