Cầu cổ Việt
Cầu ngói Thanh Thuỷ, Huế còn có tên gọi khác là cầu ngói Thanh Toàn vốn là tên nguyên lai làng cổ được thành lập từ thời Tổng trấn Nguyễn Hoàng ở thế kỷ XVI. Tộc Trần là một trong 12 họ tộc có công khởi dựng làng, được lưu danh trong “sắc khai canh của làng” và được thờ ở đình. Người đứng đầu tộc Trần thời ấy là quan đại thần được phong tước Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân Cẩm y vệ Phó quản lãnh. Hậu duệ đời thứ tư của ngài tên Trần Văn Phó, sinh hạ được nhiều con đàn cháu đống. Ái nữ Trần Thị Đạo của ông chính là người đã khởi công xây dựng cầu ngói Thanh Toàn vào trước năm Cảnh Hưng thứ 37, triều Lê - Trịnh (khoảng trước 1776). Bà là phu nhân một nhân vật cao cấp hàng tứ trụ triều đình. Cây cầu được thiết kế ba “vài” (3 gian). “Vài trung tâm” được nâng cao bằng phẳng, hai “vài” hai bên có chiều dốc nhẹ xuống hai bờ sông. Lòng cầu rộng 4,7m, hai bên thiết kế bục ghế dài cho cư dân ngồi hóng gió, ngắm trăng. Mái cầu được lợp bằng ngói lưu li ống âm dương là một minh chứng cho độ bền của kỹ nghệ cầu xưa. Với bảy nhịp cầu dài khoảng 17m bắc trên dàn 18 trụ gỗ lim to lớn thuộc lại “thiết mộc” sắp thành 3 hàng cắm sâu vào lòng sông đã giúp cho cầu tồn tại bền bỉ hơn 230 năm qua. Ở “vài giữa” phía xoay mặt về hướng đông có đặt khám thờ bà Trần Thị Đạo. Hồi đầu thế kỷ XX, ở phía bên trái gần cầu, còn hai nhà bia do dân làng dựng lên ghi công tích, lịch sử xây dựng cầu. Bà Trần Thị Đạo người khai sinh ra cây cầu đã được vinh danh nhiều lần trong sử sách địa phương và được dân chúng tôn thờ. Năm Cảnh Hưng 37, vua Lê Hiển Tông từng ban sắc khen tặng. Nội dung tờ sắc phần nào hé mở thân phận người có lòng hảo tâm bỏ tiền hưng công cầu:
“Cảnh hưng Hoàng đế
Chiếu chỉ
Bà Trần Thị Đạo, chánh quán làng Thanh Toàn, vợ của khâm sai chủ sự hoàng cung, tổng chi huy thuỷ bộ chư binh, tổng đốc ba huyện Hương Trà, Phú Vang và Quảng Điền, nhất trụ triều đình, tước hầu. Bà làm phước đức còn hơn các bà trong Đại nội. Đời bà được mọi người khen, danh tiếng của bà không lời ca tụng nào xứng. Bà không ngần ngại vượt qua bao nhiêu mệt nhọc để theo đuổi cuộc hành trình cùng với đoàn của vua. Bà đã dũng cảm làm trọn ba nhiệm vụ của phái nữ, bà còn để lại cho làng bà nhiều ơn huệ mà người ta cần lưu niệm.
Dân làng được miễn các lao dịch như sau: miễn cung cấp nhân công để bảo tồn lăng tẩm đền miếu; miễn động viên lính thuỷ, lính bộ; miễn trưng dụng thuyền bè, tuyển nài, cắt cỏ cho voi, ngựa ăn, tiều phu, thợ mộc đóng thuyền. Nói tóm lại, họ không phải đóng góp gì về các dịch vụ bắt buộc nào cả. Họ chỉ lo chăm sóc cầu, con suối chảy qua và các con đường dẫn đến. Chiếu sắc này nhằm mục đích nêu lên khen ngợi của triều đình đối với người đã xây dựng nên cầu này và để khuyến khích người khác nên bày tỏ lòng rộng lượng như bà. Làng này sẽ biết bao sung sướng và tự hào là xứ sở của người đàn bà đáng kính trọng cao cả. năm Khải Định thứ nhất, vua ban sắc phong Quí phu nhân Trần Thị Đạo tước hiệu “Dực bảo trung hưng linh phù”.
Cây cầu ba chìm bảy nổi theo dòng thời gian. Năm Thiệu Trị thứ tư (1844), trận lũ lụt lớn đã làm hư hỏng nặng cầu và phải chờ tới ba năm sau nó mới được sửa chữa. Sự kiện ấy được dân làng khắc ghi ngay trên cột cầu (tháng 3-1847). Chưa hết, cơn bão hung hãn ngày 11 tháng 9 năm 1904, đã thổi bay mái ngói và phá sập cầu. Noi gương bậc nữ kiệt tiền bối dựng càu, dân chúng đã chung tay góp công góp của được 700 đồng và triều đình trợ giúp 250 đồng sửa chữa phục dựng lại cầu. Ở đợt sửa chữa này không hiểu vì lý do gì, kích thước cầu bị thu hẹp bớt, song hình dáng được bảo toàn nguyên vẹn (kích thước mới / nguyên thuỷ: dài 16,85m/18,75m; rộng 4,63m/5,82m).
![]() |
Cầu ngói Thanh Thuỷ |
Cầu Việt cổ ẩn chứa những kho tàng triết lý, văn hoá của cư dân vùng sông nước. Không chỉ vậy, những cây cầu là những “nhân chứng” cho lịch sử vẻ vang của ông cha. Giá như lại có một cây cầu mái ngói kiểu thượng gia hạ kiều băng qua sông Tô Lịch, một cầu đá với vẻ đẹp kiêu sa của nghệ thuật chạm đá trên sông Kim Ngưu, rồi một cây cầu gạch mộc mạc vững chắc đâu đó trên đất Thăng Long… chắc chắn sẽ tô điểm thêm vẻ kiều diễm, của vùng đất “Rồng bay”, sẽ hấp dẫn thêm nhiều du khách tới Việt Nam bởi nét đẹp truyền thống của đất Đế đô mà không phải nơi nào cũng có. Mong sao người Hà Nội sẽ có lại những cây cầu ấy trong dịp đại lễ hội 1.000 năm Thăng Long để hoài niệm và suy nghĩ về văn hoá cầu của người Việt.









