Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 02/01/2008 20:19 (GMT+7)

Cấp cứu đặc biệt khi mắt bị bỏng

Bỏng hóa chất 

Thực tế cho thấy, thường gặp nhất là bỏng do hóa chất, đặc biệt là bỏng vôi. Sau khi bị bỏng, các mạch máu kết mạc vùng rìa thường bị tắc gây rối loạn dinh dưỡng giác mạc, làm cho các tổn thương giác mạc khó hồi phục. Bỏng hoá chất có thể gây một số phản ứng hoá học như: thay đổi pH, phá huỷ các protein, làm tê liệt hoạt động các men cần thiết cho chuyển hoá của tế bào, hạ thấp chuyển hoá oxy của tế bào.

Có hai hình thái bỏng mắt là bỏng các phần phụ ngoài nhãn cầu hoặc bỏng các cấu trúc bên trong và cực sau nhãn cầu. Nguyên nhân bỏng thường gặp là: bỏng do các yếu tố hoá chất (axit hoặc bazơ); do các yếu tố vật lý: bỏng nhiệt, bỏng lạnh, bỏng điện, bỏng tia hồ quang (bỏng hàn), tia cực tím. Mức độ bỏng có thể từ nhẹ đến nặng phụ thuộc vào độ đậm đặc của hóa chất, thời gian hoá chất ở trong mắt (hóa chất ở càng lâu trong mắt, càng bỏng nặng), tính chất lý hóa học của hoá chất (khả năng thẩm thấu hút nước, khả năng phá huỷ nông hay sâu tới các protein của tổ chức).

Có những trường hợp bỏng nhẹ: mi mắt không bị tổn thương, kết mạc có thể bị cương tụ, phù kết mạc, chấm xuất huyết xung quanh rìa, xuất huyết dưới kết mạc, không có dấu hiệu hoại tử kết mạc. Giác mạc có thể mờ đục nhẹ, xước biểu mô giác mạc, lớp mô nhục không bị tổn thương. Trường hợp bỏng nặng, da mi mắt bỏng, bờ mi và điểm lệ cũng có thể bị tổn thương. Có tình trạng thiếu máu kết mạc làm kết mạc trở nên trắng, dày, có thể hoại tử. Giác mạc mờ đục, dày nên có thể không thấy mống mắt, thể thuỷ tinh. Có phản ứng màng bồ đào như tủa sau giác mạc, tyndal (+), dính mống mắt.

Cấp cứu khi bỏng mắt

Khi xảy ra bỏng mắt, cần đưa ngay nạn nhân đến cơ sở y tế gần nhất để được cấp cứu kịp thời. Cần loại trừ chất gây bỏng bằng cách: rửa mắt nhiều lần bằng nước sạch, nước muối sinh lý hoặc dung dịch Ringer, mỗi lần rửa ít nhất 15 - 30 phút. Lấy hết dị vật nếu có. Mục đích rửa mắt làm loãng chất gây bỏng và giảm độc tố chất gây bỏng. Vì vậy, phải bộc lộ cùng đồ rộng bằng hai vành mi, lấy dị vật bằng panh. Sau đó, chống đau, chống nhiễm khuẩn, chống dính, chống thiếu dinh dưỡng giác mạc bằng thuốc theo chỉ định.

Trường hợp bỏng vôi sống, trước khi rửa phải lấy hết vôi bám kết mạc, sau đó rửa mắt. Nhỏ thuốc giãn đồng tử, kháng sinh. Bệnh nhân tra thuốc liên tục trong ngày theo chỉ định của bác sĩ. Chọc tiền phòng được áp dụng với bỏng kiềm nặng. Chọc tiền phòng nhằm thay đổi độ pH của thuỷ dịch, đề phòng đục thể thuỷ tinh thứ phát và viêm màng bồ đào, tổn thương góc tiền phòng. Sau khi chọc tiền phòng, bơm dung dịch nước muối 0,9% hoặc dung dịch Ringer. Trong giai đoạn điều trị phục hồi, cần chú ý đề phòng: nhiễm trùng thứ phát, viêm màng bồ đào, tăng nhãn áp. Điều trị chủ yếu để lớp biểu mô giác mạc tái tạo, tránh loét, tránh thủng giác mạc.

Sau bỏng, nhiễm trùng thứ phát hay gặp do vi khuẩn gam (-) luôn luôn có mặt tại vết thương. Những di chứng thường gặp khi bỏng mắt là: sẹo giác mạc, cạn dính cùng đồ, dính mi cầu, hở hếch mi do sẹo co kéo. Những di chứng này thường được điều trị bằng phẫu thuật như: tách dính cùng đồ kết hợp vá kết mạc, niêm mạc miệng hoặc vá màng rau thai, ghép giác mạc, vá da tạo hình mi. Để đề phòng bỏng mắt, đối với những người làm nghề có nguy cơ bỏng cao phải dùng đồ bảo hộ lao động, chấp hành tốt các nội quy về an toàn lao động. Cải thiện điều kiện làm việc: nơi làm việc phải thoáng khí, đủ ánh sáng, đủ rộng, không quá chật chội.

Bỏng hóa chất 

Thực tế cho thấy, thường gặp nhất là bỏng do hóa chất, đặc biệt là bỏng vôi. Sau khi bị bỏng, các mạch máu kết mạc vùng rìa thường bị tắc gây rối loạn dinh dưỡng giác mạc, làm cho các tổn thương giác mạc khó hồi phục. Bỏng hoá chất có thể gây một số phản ứng hoá học như: thay đổi pH, phá huỷ các protein, làm tê liệt hoạt động các men cần thiết cho chuyển hoá của tế bào, hạ thấp chuyển hoá oxy của tế bào.

Có hai hình thái bỏng mắt là bỏng các phần phụ ngoài nhãn cầu hoặc bỏng các cấu trúc bên trong và cực sau nhãn cầu. Nguyên nhân bỏng thường gặp là: bỏng do các yếu tố hoá chất (axit hoặc bazơ); do các yếu tố vật lý: bỏng nhiệt, bỏng lạnh, bỏng điện, bỏng tia hồ quang (bỏng hàn), tia cực tím. Mức độ bỏng có thể từ nhẹ đến nặng phụ thuộc vào độ đậm đặc của hóa chất, thời gian hoá chất ở trong mắt (hóa chất ở càng lâu trong mắt, càng bỏng nặng), tính chất lý hóa học của hoá chất (khả năng thẩm thấu hút nước, khả năng phá huỷ nông hay sâu tới các protein của tổ chức).

Có những trường hợp bỏng nhẹ: mi mắt không bị tổn thương, kết mạc có thể bị cương tụ, phù kết mạc, chấm xuất huyết xung quanh rìa, xuất huyết dưới kết mạc, không có dấu hiệu hoại tử kết mạc. Giác mạc có thể mờ đục nhẹ, xước biểu mô giác mạc, lớp mô nhục không bị tổn thương. Trường hợp bỏng nặng, da mi mắt bỏng, bờ mi và điểm lệ cũng có thể bị tổn thương. Có tình trạng thiếu máu kết mạc làm kết mạc trở nên trắng, dày, có thể hoại tử. Giác mạc mờ đục, dày nên có thể không thấy mống mắt, thể thuỷ tinh. Có phản ứng màng bồ đào như tủa sau giác mạc, tyndal (+), dính mống mắt.

Cấp cứu khi bỏng mắt

Khi xảy ra bỏng mắt, cần đưa ngay nạn nhân đến cơ sở y tế gần nhất để được cấp cứu kịp thời. Cần loại trừ chất gây bỏng bằng cách: rửa mắt nhiều lần bằng nước sạch, nước muối sinh lý hoặc dung dịch Ringer, mỗi lần rửa ít nhất 15 - 30 phút. Lấy hết dị vật nếu có. Mục đích rửa mắt làm loãng chất gây bỏng và giảm độc tố chất gây bỏng. Vì vậy, phải bộc lộ cùng đồ rộng bằng hai vành mi, lấy dị vật bằng panh. Sau đó, chống đau, chống nhiễm khuẩn, chống dính, chống thiếu dinh dưỡng giác mạc bằng thuốc theo chỉ định.

Trường hợp bỏng vôi sống, trước khi rửa phải lấy hết vôi bám kết mạc, sau đó rửa mắt. Nhỏ thuốc giãn đồng tử, kháng sinh. Bệnh nhân tra thuốc liên tục trong ngày theo chỉ định của bác sĩ. Chọc tiền phòng được áp dụng với bỏng kiềm nặng. Chọc tiền phòng nhằm thay đổi độ pH của thuỷ dịch, đề phòng đục thể thuỷ tinh thứ phát và viêm màng bồ đào, tổn thương góc tiền phòng. Sau khi chọc tiền phòng, bơm dung dịch nước muối 0,9% hoặc dung dịch Ringer. Trong giai đoạn điều trị phục hồi, cần chú ý đề phòng: nhiễm trùng thứ phát, viêm màng bồ đào, tăng nhãn áp. Điều trị chủ yếu để lớp biểu mô giác mạc tái tạo, tránh loét, tránh thủng giác mạc.

Sau bỏng, nhiễm trùng thứ phát hay gặp do vi khuẩn gam (-) luôn luôn có mặt tại vết thương. Những di chứng thường gặp khi bỏng mắt là: sẹo giác mạc, cạn dính cùng đồ, dính mi cầu, hở hếch mi do sẹo co kéo. Những di chứng này thường được điều trị bằng phẫu thuật như: tách dính cùng đồ kết hợp vá kết mạc, niêm mạc miệng hoặc vá màng rau thai, ghép giác mạc, vá da tạo hình mi. Để đề phòng bỏng mắt, đối với những người làm nghề có nguy cơ bỏng cao phải dùng đồ bảo hộ lao động, chấp hành tốt các nội quy về an toàn lao động. Cải thiện điều kiện làm việc: nơi làm việc phải thoáng khí, đủ ánh sáng, đủ rộng, không quá chật chội.

Nguồn: Khoa học và Đời sống, 102 (2029), 24/10/2007, tr 10

Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Thống nhất các nội dung chuẩn bị Đại hội IX Liên hiệp Hội Việt Nam
Sáng 12-8, tại Hà Nội, Đoàn Chủ tịch và Hội đồng Trung ương Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức Hội nghị Đoàn Chủ tịch lần thứ 19 và Hội nghị Hội đồng Trung ương lần thứ 13 khóa VIII dưới hình thức trực tiếp và trực tuyến, nhằm tập trung rà soát, thống nhất các nội dung chuẩn bị Đại hội đại biểu toàn quốc Liên hiệp Hội Việt Nam lần thứ IX, nhiệm kỳ 2026-2031
Quảng Trị: Tập huấn cập nhật kiến thức chăm sóc người bệnh
Ngày 11/8, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp Hội) tỉnh phối hợp với Hội Y học tỉnh tổ chức tập huấn “Cập nhật kiến thức, nâng cao kỹ năng chăm sóc người bệnh”, nhằm cập nhật kiến thức chuyên môn và y khoa mới, nâng cao kỹ năng chăm sóc người bệnh cho đội ngũ điều dưỡng.
Đại hội lần thứ nhất Liên hiệp Hội Việt Nam – Dấu mốc khai sinh mái nhà chung của trí thức khoa học và công nghệ
Ngày 26/3/1983, tại Thủ đô Hà Nội, Đại hội thành lập Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam được tổ chức. Từ dấu mốc lịch sử ấy, một tổ chức chung của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ Việt Nam chính thức hình thành, mở ra hành trình tập hợp, đoàn kết và phát huy trí tuệ của các nhà khoa học vì sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.
Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Tạo động lực phát triển, đưa ngành công nghệ sinh học Việt Nam lên tầm cao mới
Hội nghị Khoa học toàn quốc về Công nghệ sinh học 2026, diễn ra trong hai ngày 7 và 8/8 tại Đại học Đông Á, Đà Nẵng, không chỉ là sự kiện học thuật mà còn là một dấu mốc chiến lược, điểm hội tụ trí tuệ nhằm định hình lại quỹ đạo phát triển của ngành công nghệ sinh học Việt Nam...