Cấp cứu đặc biệt khi mắt bị bỏng
Bỏng hóa chất
Thực tế cho thấy, thường gặp nhất là bỏng do hóa chất, đặc biệt là bỏng vôi. Sau khi bị bỏng, các mạch máu kết mạc vùng rìa thường bị tắc gây rối loạn dinh dưỡng giác mạc, làm cho các tổn thương giác mạc khó hồi phục. Bỏng hoá chất có thể gây một số phản ứng hoá học như: thay đổi pH, phá huỷ các protein, làm tê liệt hoạt động các men cần thiết cho chuyển hoá của tế bào, hạ thấp chuyển hoá oxy của tế bào.
Có hai hình thái bỏng mắt là bỏng các phần phụ ngoài nhãn cầu hoặc bỏng các cấu trúc bên trong và cực sau nhãn cầu. Nguyên nhân bỏng thường gặp là: bỏng do các yếu tố hoá chất (axit hoặc bazơ); do các yếu tố vật lý: bỏng nhiệt, bỏng lạnh, bỏng điện, bỏng tia hồ quang (bỏng hàn), tia cực tím. Mức độ bỏng có thể từ nhẹ đến nặng phụ thuộc vào độ đậm đặc của hóa chất, thời gian hoá chất ở trong mắt (hóa chất ở càng lâu trong mắt, càng bỏng nặng), tính chất lý hóa học của hoá chất (khả năng thẩm thấu hút nước, khả năng phá huỷ nông hay sâu tới các protein của tổ chức).
Có những trường hợp bỏng nhẹ: mi mắt không bị tổn thương, kết mạc có thể bị cương tụ, phù kết mạc, chấm xuất huyết xung quanh rìa, xuất huyết dưới kết mạc, không có dấu hiệu hoại tử kết mạc. Giác mạc có thể mờ đục nhẹ, xước biểu mô giác mạc, lớp mô nhục không bị tổn thương. Trường hợp bỏng nặng, da mi mắt bỏng, bờ mi và điểm lệ cũng có thể bị tổn thương. Có tình trạng thiếu máu kết mạc làm kết mạc trở nên trắng, dày, có thể hoại tử. Giác mạc mờ đục, dày nên có thể không thấy mống mắt, thể thuỷ tinh. Có phản ứng màng bồ đào như tủa sau giác mạc, tyndal (+), dính mống mắt.
Cấp cứu khi bỏng mắt
Khi xảy ra bỏng mắt, cần đưa ngay nạn nhân đến cơ sở y tế gần nhất để được cấp cứu kịp thời. Cần loại trừ chất gây bỏng bằng cách: rửa mắt nhiều lần bằng nước sạch, nước muối sinh lý hoặc dung dịch Ringer, mỗi lần rửa ít nhất 15 - 30 phút. Lấy hết dị vật nếu có. Mục đích rửa mắt làm loãng chất gây bỏng và giảm độc tố chất gây bỏng. Vì vậy, phải bộc lộ cùng đồ rộng bằng hai vành mi, lấy dị vật bằng panh. Sau đó, chống đau, chống nhiễm khuẩn, chống dính, chống thiếu dinh dưỡng giác mạc bằng thuốc theo chỉ định.
Trường hợp bỏng vôi sống, trước khi rửa phải lấy hết vôi bám kết mạc, sau đó rửa mắt. Nhỏ thuốc giãn đồng tử, kháng sinh. Bệnh nhân tra thuốc liên tục trong ngày theo chỉ định của bác sĩ. Chọc tiền phòng được áp dụng với bỏng kiềm nặng. Chọc tiền phòng nhằm thay đổi độ pH của thuỷ dịch, đề phòng đục thể thuỷ tinh thứ phát và viêm màng bồ đào, tổn thương góc tiền phòng. Sau khi chọc tiền phòng, bơm dung dịch nước muối 0,9% hoặc dung dịch Ringer. Trong giai đoạn điều trị phục hồi, cần chú ý đề phòng: nhiễm trùng thứ phát, viêm màng bồ đào, tăng nhãn áp. Điều trị chủ yếu để lớp biểu mô giác mạc tái tạo, tránh loét, tránh thủng giác mạc.
Sau bỏng, nhiễm trùng thứ phát hay gặp do vi khuẩn gam (-) luôn luôn có mặt tại vết thương. Những di chứng thường gặp khi bỏng mắt là: sẹo giác mạc, cạn dính cùng đồ, dính mi cầu, hở hếch mi do sẹo co kéo. Những di chứng này thường được điều trị bằng phẫu thuật như: tách dính cùng đồ kết hợp vá kết mạc, niêm mạc miệng hoặc vá màng rau thai, ghép giác mạc, vá da tạo hình mi. Để đề phòng bỏng mắt, đối với những người làm nghề có nguy cơ bỏng cao phải dùng đồ bảo hộ lao động, chấp hành tốt các nội quy về an toàn lao động. Cải thiện điều kiện làm việc: nơi làm việc phải thoáng khí, đủ ánh sáng, đủ rộng, không quá chật chội.
Bỏng hóa chất
Thực tế cho thấy, thường gặp nhất là bỏng do hóa chất, đặc biệt là bỏng vôi. Sau khi bị bỏng, các mạch máu kết mạc vùng rìa thường bị tắc gây rối loạn dinh dưỡng giác mạc, làm cho các tổn thương giác mạc khó hồi phục. Bỏng hoá chất có thể gây một số phản ứng hoá học như: thay đổi pH, phá huỷ các protein, làm tê liệt hoạt động các men cần thiết cho chuyển hoá của tế bào, hạ thấp chuyển hoá oxy của tế bào.
Có hai hình thái bỏng mắt là bỏng các phần phụ ngoài nhãn cầu hoặc bỏng các cấu trúc bên trong và cực sau nhãn cầu. Nguyên nhân bỏng thường gặp là: bỏng do các yếu tố hoá chất (axit hoặc bazơ); do các yếu tố vật lý: bỏng nhiệt, bỏng lạnh, bỏng điện, bỏng tia hồ quang (bỏng hàn), tia cực tím. Mức độ bỏng có thể từ nhẹ đến nặng phụ thuộc vào độ đậm đặc của hóa chất, thời gian hoá chất ở trong mắt (hóa chất ở càng lâu trong mắt, càng bỏng nặng), tính chất lý hóa học của hoá chất (khả năng thẩm thấu hút nước, khả năng phá huỷ nông hay sâu tới các protein của tổ chức).
Có những trường hợp bỏng nhẹ: mi mắt không bị tổn thương, kết mạc có thể bị cương tụ, phù kết mạc, chấm xuất huyết xung quanh rìa, xuất huyết dưới kết mạc, không có dấu hiệu hoại tử kết mạc. Giác mạc có thể mờ đục nhẹ, xước biểu mô giác mạc, lớp mô nhục không bị tổn thương. Trường hợp bỏng nặng, da mi mắt bỏng, bờ mi và điểm lệ cũng có thể bị tổn thương. Có tình trạng thiếu máu kết mạc làm kết mạc trở nên trắng, dày, có thể hoại tử. Giác mạc mờ đục, dày nên có thể không thấy mống mắt, thể thuỷ tinh. Có phản ứng màng bồ đào như tủa sau giác mạc, tyndal (+), dính mống mắt.
Cấp cứu khi bỏng mắt
Khi xảy ra bỏng mắt, cần đưa ngay nạn nhân đến cơ sở y tế gần nhất để được cấp cứu kịp thời. Cần loại trừ chất gây bỏng bằng cách: rửa mắt nhiều lần bằng nước sạch, nước muối sinh lý hoặc dung dịch Ringer, mỗi lần rửa ít nhất 15 - 30 phút. Lấy hết dị vật nếu có. Mục đích rửa mắt làm loãng chất gây bỏng và giảm độc tố chất gây bỏng. Vì vậy, phải bộc lộ cùng đồ rộng bằng hai vành mi, lấy dị vật bằng panh. Sau đó, chống đau, chống nhiễm khuẩn, chống dính, chống thiếu dinh dưỡng giác mạc bằng thuốc theo chỉ định.
Trường hợp bỏng vôi sống, trước khi rửa phải lấy hết vôi bám kết mạc, sau đó rửa mắt. Nhỏ thuốc giãn đồng tử, kháng sinh. Bệnh nhân tra thuốc liên tục trong ngày theo chỉ định của bác sĩ. Chọc tiền phòng được áp dụng với bỏng kiềm nặng. Chọc tiền phòng nhằm thay đổi độ pH của thuỷ dịch, đề phòng đục thể thuỷ tinh thứ phát và viêm màng bồ đào, tổn thương góc tiền phòng. Sau khi chọc tiền phòng, bơm dung dịch nước muối 0,9% hoặc dung dịch Ringer. Trong giai đoạn điều trị phục hồi, cần chú ý đề phòng: nhiễm trùng thứ phát, viêm màng bồ đào, tăng nhãn áp. Điều trị chủ yếu để lớp biểu mô giác mạc tái tạo, tránh loét, tránh thủng giác mạc.
Sau bỏng, nhiễm trùng thứ phát hay gặp do vi khuẩn gam (-) luôn luôn có mặt tại vết thương. Những di chứng thường gặp khi bỏng mắt là: sẹo giác mạc, cạn dính cùng đồ, dính mi cầu, hở hếch mi do sẹo co kéo. Những di chứng này thường được điều trị bằng phẫu thuật như: tách dính cùng đồ kết hợp vá kết mạc, niêm mạc miệng hoặc vá màng rau thai, ghép giác mạc, vá da tạo hình mi. Để đề phòng bỏng mắt, đối với những người làm nghề có nguy cơ bỏng cao phải dùng đồ bảo hộ lao động, chấp hành tốt các nội quy về an toàn lao động. Cải thiện điều kiện làm việc: nơi làm việc phải thoáng khí, đủ ánh sáng, đủ rộng, không quá chật chội.
Nguồn: Khoa học và Đời sống, 102 (2029), 24/10/2007, tr 10








