Canh tác sắn bền vững trên đất dốc Bình Định
1. Đặt vấn đề
Dân số ngày một tăng dẫn đến thiếu đất sản xuất, nông dân miền núi phải canh tác trên đất có dốc cao hơn 25 ovà thường là trồng độc canh cây nông nghiệp ngắn ngày (sắn, lúa rẫy...) nên hiện tượng thoái hoá đất diễn ra càng nhanh, thời gian canh tác hiệu quả là rất ngắn, thường chỉ được 2- 3 vụ cây lương thực ngắn ngày, sau đó phải bỏ hóa đất. Đặc biệt nguy hiểm là hiện nay nông dân miền núi vẫn áp dụng phương pháp dọn sạch cỏ dại và đốt trước khi gieo trồng. Với cách làm này, dòng chảy bề mặt thường rất lớn, lượng đất bề mặt bị rửa trôi nhiều. Khi tài nguyên rừng bị mất, diện tích đất trống đồi núi trọc ngày càng tăng, hiện tượng lũ lụt xảy ra nhiều và lớn hơn.
Năm 2007, diện tích sắn của tỉnh Bình Định là 13.160 ha, tăng 0,2% so với năm 2006, năng suất 190,4 tạ/ha (tăng 4,7%), sản lượng 250.511 tấn. Năm 2008, diện tích sắn sẽ giữ mức ổn định 12.500 ha, năng suất 210 tạ/ha, sản lượng 262.500 tấn, đủ nguyên liệu cung cấp cho nhà máy chế biến tinh bột sắn. Để giải quyết vấn đề thoái hoá và hoang mạc hoá đất đồi núi và tăng hiệu quả kinh tế , cải thiện đời sống, giảm tình trạng chặt phá rừng làm rẫy, thì cần phải canh tác bền vững cây sắn trên đất dốc.
2. Trồng đậu xanh xen sắn trên đất đồi núi tỉnh Bình Định.
Bảng 1. Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của giống sắn KM94
Chỉ tiêu Công thức | Tỷ lệ nảy mầm/ mọc chồi (%) | Sức sinh trưởng ban đầu | Độ đồng đều (điểm 1-5) |
1. Sắn trồng thuần | 98 | Khá | 5 |
2. Sắn có xen đậu xanh | 98 | Khá | 5 |
Bảng 2. Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của giống sắn KM94
Chỉ tiêu Công thức | Số khóm thực thu/ m 2 | P củ/ khóm (kg) | P củ thực thu/ 5m 2(kg) | Năng suất (tấn/ha) |
1. Sắn trồng thuần | 1,50 | 1,74 | 13,03 | 26,05 |
2. Sắn có xen đậu xanh | 1,50 | 2,10 | 15,75 | 31,50 |
Kết quả bảng 1 và 2 cho ta thấy: Trong giai đoạn đầu sinh trưởng giống sắn KM94 chưa có biểu hiện khác biệt giữa hai biện pháp canh tác trồng xen và trồng thuần. Nhưng xét về chỉ tiêu năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất thì khi áp dụng biện pháp trồng xen với cây đậu xanh năng suất giống sắn KM94 đều tăng so với trồng thuần: số củ/khóm tăng 20,69%; năng suất là 31,50 tấn/ha, tăng 20,92% so với trồng sắn thuần.
Bảng 3. Đặc điểm sinh trưởng và năng suất giống đậu xanh V94-208
Chỉ tiêu Công thức | Chiều cao cây (cm) | Số quả/ cây (quả) | Số hạt/ quả (hạt) | Trọng lượng hạt/5m 2(kg) | Năng suất (tạ/ha) |
1. Đậu xanh xen sắn có bón phân | 53,73 | 12,60 | 9,60 | 0,520 | 10,40 |
2. Đậu xanh thuần không bón phân | 41,73 | 9,83 | 9,50 | 0,323 | 6,46 |
Số liệu bảng 3 cho thấy, ngoại trừ chỉ tiêu số hạt/quả mang đặc điểm riêng của giống nên không có sự sai khác giữa các công thức có bón phân và không bón phân. Các chỉ tiêu chiều cao cây và số quả/cây ở mô hình có bón phân tăng rõ rệt so với công thức không bón phân: chiều cao cây ở công thức có bón phân tăng 28,76% kéo theo số quả/cây cũng tăng lên 28,18% so với công thức không bón phân. Số quả/cây tăng nên năng suất của giống đậu xanh V94 - 208 ở mô hình có bón phân là 10,40 tạ/ha, tăng 60,99% so với mô hình không bón phân.
Bảng 4. Đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình trồng đậu xanh xen sắn trên 1 ha/vụ
Đơn vị: đồng
Hạng mục | Sắn trồng thuần | Đậu xanh xen sắn không bón phân | Đậu xanh xen sắn có bón phân |
I. Tổng chi | 7.600.000 | 11.240.000 | 12.660.000 |
1. Giống | 600.000 | 840.000 | 840.000 |
2. Phân bón và thuốc BVTV | 1.000.000 | 1.000.000 | 1.820.000 |
3. Công | 6.000.000 | 9.400.000 | 10.000.000 |
3.1. Công làm đất | 2.000.000 | 2.000.000 | 2.000.000 |
3.2. Công trồng | 1.000.000 | 1.600.000 | 1.600.000 |
3.3. Công chăm sóc | 1.500.000 | 2.900.000 | 3.200.000 |
3.4. Công thu hoạch | 1.500.000 | 2.900.000 | 3.200.000 |
II. Tổng thu | 13.025.000 | 19.485.000 | 26.150.000 |
1. Sắn | 13.025.000 | 13.025.000 | 15.750.000 |
2. Đậu xanh | 0 | 6.460.000 | 10.400.000 |
III. Lãi thuần | 5.425.000 | 8.145.000 | 13.490.000 |
Chênh lệch lãi khi áp dụng kỹ thuật so với sắn trồng thuần | - | 2.720.000 | 8.065.000 |
Chênh lệch lãi khi áp dụng kỹ thuật so với sắn xen đậu xanh không bón phân | - | - | 5.245.000 |
Tỷ lệ % lãi so với sắn trồng thuần | 100,0 | 150,1 | 248,7 |
Tỷ suất lợi nhuận (lần) | 0,71 | 0,73 | 1,07 |
Ghi chú(giá vào thời điểm 6 tháng đầu năm 2007) : 1. Giá sắn giống: 500 đồng/kg |
Hiệu quả kinh tế của mô hình trồng đậu xanh xen sắn được thể hiện trong bảng 4, mặc dù mô hình đậu xanh xen sắn có tổng chi phí lớn hơn sắn trồng thuần, nhưng tổng thu của mô hình sắn xen đậu xanh (26.150.000 đ/ha) cao hơn rất nhiều so với sắn trồng thuần (13.025.000 đ/ha). Với tổng lãi thuần của mô hình đậu xanh xen sắn là 13.490.000 đ/ha cao hơn gấp 2,49 lần so với trồng sắn thuần (7.805.000 đ/ha); tỷ suất lợi nhuận là 1,07 lần (đậu xanh xen sắn) và 0,71 lần (sắn trồng thuần).
Lãi ròng của mô hình trồng đậu xanh xen sắn có bón phân tăng hơn trồng sắn xen đậu xanh không bón phân là 5.245.000 đ/ha (tăng gấp 1,64 lần). Trong điều kiện người dân ít vốn, không đầu tư phân bón nhưng với mô hình đậu xanh xen sắn vẫn cho lãi ròng gấp 1,50 lần so với trồng thuần sắn. Như vậy, nên áp dụng mô hình trồng đậu xanh xen sắn có và không có bón phân vì nó đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn cả.
3. Đánh giá hiệu quả môi trường của mô hình thí nghiệm:
So sánh lượng đất mất đi do xói mòn giữa hai mô hình sắn trồng thuần và mô hình trồng đậu xanh xen sắn: Với lượng đất mất đi 6.550,0 kg/ha mô hình sắn trồng thuần có lượng đất xói mòn cao nhất; đồng thời kéo theo lượng chất dinh dưỡng N,P,K và lượng phân bón tương ứng mất đi cũng cao nhất. Mô hình sắn có trồng xen cây đậu xanh thì lượng đất xói mòn và dinh dưỡng tương ứng sẽ giảm được đi 14,42%. Ngoài ra, rễ cây đậu xanh có nốt sần cố định đạm khí trời nên ít lấy đạm của đất, đồng thời thân lá cây đậu xanh được trả lại cho đất.
Bảng 5. Đánh giá thiệt hại kinh tế do xói mòn tại các mô hình canh tác trên đất dốc tại xã Vĩnh Thuận, huyện Vĩnh Thạnh, Bình Định năm 2007
Tên mô hình | Lượng đất xói mòn (kg/ha) | So với đối chứng % | Lượng dinh dưỡng mất đi (kg/ha/vụ) | Lượng phân bón tương đương mất đi (kg/ha/vụ) | Thành tiền (đồng) | ||||
N | P 2O 5 | K 2O | urê | lân super | kali clorua | ||||
1. Sắn trồng thuần | 6.550,0 | 100,0 | 6,55 | 12,45 | 311.744 | 14,24 | 77,81 | 29,48 | 311.744 |
2. Đậu xanh xen sắn | 5.605,0 | 85,6 | 5,61 | 10,65 | 266.732 | 12,20 | 66,56 | 25,22 | 266.732 |
Do phân tích hàm lượng dinh dưỡng đất trước khi triển khai mô hình nên đã xác định được tổn thất thành tiền do xói mòn đất. Mô hình trồng sắn thuần bị thiệt hại kinh tế do xói mòn là 311.744 đ/ha/năm, vượt hơn mô hình trồng đậu xanh xen sắn là 45.012 đ/ha/năm (14,4%). Tuy nhiên, nếu tính toán hiệu quả kinh tế của mô hình thì lượng N,P,K mất đi trên ha trong một vụ là không lớn nhưng xét về tổng diện tích trồng sắn hằng năm của tỉnh đã tác động đến môi trường thì lượng đất mất đi và thiệt hại về kinh tế là rất lớn khó có thể bù đắp lại được.
4. Kết luận, đề nghị
+ Mô hình trồng đậu xanh xen sắn có năng suất 31,5 tấn/ha và tăng 20,92% so với sắn trồng thuần. Lãi ròng của mô hình trồng đậu xanh xen sắn có bón phân tăng hơn trồng sắn xen đậu xanh không bón phân là 5.245.000 đ/ha (tăng gấp 1,64 lần). Trong điều kiện người dân ít vốn, không đầu tư phân bón nhưng với mô hình đậu xanh xen sắn vẫn cho lãi ròng gấp 1,50 lần so với trồng thuần sắn.
+ Khi áp dụng biện pháp trồng đậu xanh xen sắn đều có lượng đất mất đi giảm hơn so với sắn trồng thuần 14,42%.
+ Đề nghị áp dụng mô hình đậu xanh xen sắn có điều kiện tương tự ở các vùng đất dốc trong tỉnh.
Nguồn: hoinongdan.org.vn (17/03/08)








