Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 02/04/2008 00:35 (GMT+7)

Canh tác sắn bền vững trên đất dốc Bình Định

1. Đặt vấn đề

Dân số ngày một tăng dẫn đến thiếu đất sản xuất, nông dân miền núi phải canh tác trên đất có dốc cao hơn 25 ovà thường là trồng độc canh cây nông nghiệp ngắn ngày (sắn, lúa rẫy...) nên hiện tượng thoái hoá đất diễn ra càng nhanh, thời gian canh tác hiệu quả là rất ngắn, thường chỉ được 2- 3 vụ cây lương thực ngắn ngày, sau đó phải bỏ hóa đất. Đặc biệt nguy hiểm là hiện nay nông dân miền núi vẫn áp dụng phương pháp dọn sạch cỏ dại và đốt trước khi gieo trồng. Với cách làm này, dòng chảy bề mặt thường rất lớn, lượng đất bề mặt bị rửa trôi nhiều. Khi tài nguyên rừng bị mất, diện tích đất trống đồi núi trọc ngày càng tăng, hiện tượng lũ lụt xảy ra nhiều và lớn hơn. 

Năm 2007, diện tích sắn của tỉnh Bình Định là 13.160 ha, tăng 0,2% so với năm 2006, năng suất 190,4 tạ/ha (tăng 4,7%), sản lượng 250.511 tấn. Năm 2008, diện tích sắn sẽ giữ mức ổn định 12.500 ha, năng suất 210 tạ/ha, sản lượng 262.500 tấn, đủ nguyên liệu cung cấp cho nhà máy chế biến tinh bột sắn. Để giải quyết vấn đề thoái hoá và hoang mạc hoá đất đồi núi và tăng hiệu quả kinh tế , cải thiện đời sống, giảm tình trạng chặt phá rừng làm rẫy, thì cần phải canh tác bền vững cây sắn trên đất dốc. 

2. Trồng đậu xanh xen sắn trên đất đồi núi tỉnh Bình Định.

Bảng 1. Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của giống sắn KM94

                        Chỉ tiêu

Công thức

Tỷ lệ nảy mầm/ mọc chồi (%)

Sức sinh trưởng ban đầu

Độ đồng đều

(điểm 1-5)

1. Sắn trồng thuần

98

Khá

5

2. Sắn có xen đậu xanh

98

Khá

5

Bảng 2. Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của giống sắn KM94

Chỉ tiêu

Công thức

Số khóm thực thu/ m 2

P củ/ khóm

(kg)

P củ thực thu/ 5m 2(kg)

Năng suất (tấn/ha)

1. Sắn trồng thuần

1,50

1,74

13,03

26,05

2. Sắn có xen đậu xanh

1,50

2,10

15,75

31,50

Kết quả bảng 1 và 2 cho ta thấy: Trong giai đoạn đầu sinh trưởng giống sắn KM94 chưa có biểu hiện khác biệt giữa hai biện pháp canh tác trồng xen và trồng thuần. Nhưng xét về chỉ tiêu năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất thì khi áp dụng biện pháp trồng xen với cây đậu xanh năng suất giống sắn KM94 đều tăng so với trồng thuần: số củ/khóm tăng 20,69%; năng suất là 31,50 tấn/ha, tăng 20,92% so với trồng sắn thuần.

Bảng 3. Đặc điểm sinh trưởng và năng suất giống đậu xanh V94-208

Chỉ tiêu

Công thức

Chiều cao cây (cm)

Số quả/ cây (quả)

Số hạt/ quả (hạt)

Trọng lượng hạt/5m 2(kg)

Năng suất

(tạ/ha)

1. Đậu xanh xen sắn có bón phân

53,73

12,60

9,60

0,520

10,40

2. Đậu xanh thuần không bón phân

41,73

9,83

9,50

0,323

6,46

Số liệu bảng 3 cho thấy, ngoại trừ chỉ tiêu số hạt/quả mang đặc điểm riêng của giống nên không có sự sai khác giữa các công thức có bón phân và không bón phân. Các chỉ tiêu chiều cao cây và số quả/cây ở mô hình có bón phân tăng rõ rệt so với công thức không bón phân: chiều cao cây ở công thức có bón phân tăng 28,76% kéo theo số quả/cây cũng tăng lên 28,18% so với công thức không bón phân. Số quả/cây tăng nên năng suất của giống đậu xanh V94 - 208 ở mô hình có bón phân là 10,40 tạ/ha, tăng 60,99% so với mô hình không bón phân.

Bảng 4. Đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình trồng đậu xanh xen sắn trên 1 ha/vụ

Đơn vị: đồng

Hạng mục

Sắn trồng thuần

Đậu xanh xen sắn không bón phân

Đậu xanh xen sắn có bón phân

I. Tổng chi

7.600.000

11.240.000

12.660.000

1. Giống

600.000

840.000

840.000

2. Phân bón và thuốc BVTV

1.000.000

1.000.000

1.820.000

3. Công

6.000.000

9.400.000

10.000.000

3.1. Công làm đất

2.000.000

2.000.000

2.000.000

3.2. Công trồng

1.000.000

1.600.000

1.600.000

3.3. Công chăm sóc

1.500.000

2.900.000

3.200.000

3.4. Công thu hoạch

1.500.000

2.900.000

3.200.000

II. Tổng thu

13.025.000

19.485.000

26.150.000

1. Sắn

13.025.000

13.025.000

15.750.000

2. Đậu xanh

0

6.460.000

10.400.000

III. Lãi thuần

5.425.000

8.145.000

13.490.000

Chênh lệch lãi khi áp dụng kỹ thuật so với sắn trồng thuần

-

2.720.000

8.065.000

Chênh lệch lãi khi áp dụng kỹ thuật so với sắn xen đậu xanh không bón phân

-

-

5.245.000

Tỷ lệ % lãi so với sắn trồng thuần

100,0

150,1

248,7

Tỷ suất lợi nhuận (lần)

0,71

0,73

1,07

Ghi chú(giá vào thời điểm 6 tháng đầu năm 2007) :

1. Giá sắn giống: 500 đồng/kg      
2. Giá đậu xanh giống 12.000 đồng/kg
3. Giá phân urê: 5.000 đồng/kg              
4. Giá phân lân: 1.500 đồng/kg
5. Giá phân kali: 4.200 đồng/kg 
6. Giá sắn củ thương phẩm: 500 đồng/kg
7. Giá đậu xanh thương phẩm: 10.000 đồng/kg 8. Giá công lao động: 30.000 đồng/công.

Hiệu quả kinh tế của mô hình trồng đậu xanh xen sắn được thể hiện trong bảng 4, mặc dù mô hình đậu xanh xen sắn có tổng chi phí lớn hơn sắn trồng thuần, nhưng tổng thu của mô hình sắn xen đậu xanh (26.150.000 đ/ha) cao hơn rất nhiều so với sắn trồng thuần (13.025.000 đ/ha). Với tổng lãi thuần của mô hình đậu xanh xen sắn là 13.490.000 đ/ha cao hơn gấp 2,49 lần so với trồng sắn thuần (7.805.000 đ/ha); tỷ suất lợi nhuận là 1,07 lần (đậu xanh xen sắn) và 0,71 lần (sắn trồng thuần).

Lãi ròng của mô hình trồng đậu xanh xen sắn có bón phân tăng hơn trồng sắn xen đậu xanh không bón phân là 5.245.000 đ/ha (tăng gấp 1,64 lần). Trong điều kiện người dân ít vốn, không đầu tư phân bón nhưng với mô hình đậu xanh xen sắn vẫn cho lãi ròng gấp 1,50 lần so với trồng thuần sắn. Như vậy, nên áp dụng mô hình trồng đậu xanh xen sắn có và không có bón phân vì nó đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn cả.

3. Đánh giá hiệu quả môi trường của mô hình thí nghiệm:    

So sánh lượng đất mất đi do xói mòn giữa hai mô hình sắn trồng thuần và mô hình trồng đậu xanh xen sắn: Với lượng đất mất đi 6.550,0 kg/ha mô hình sắn trồng thuần có lượng đất xói mòn cao nhất; đồng thời kéo theo lượng chất dinh dưỡng N,P,K và lượng phân bón tương ứng mất đi cũng cao nhất. Mô hình sắn có trồng xen cây đậu xanh thì lượng đất xói mòn và dinh dưỡng tương ứng sẽ giảm được đi 14,42%. Ngoài ra, rễ cây đậu xanh có nốt sần cố định đạm khí trời nên ít lấy đạm của đất, đồng thời thân lá cây đậu xanh được trả lại cho đất.

Bảng 5. Đánh giá thiệt hại kinh tế do xói mòn tại các mô hình canh tác trên đất dốc  tại xã Vĩnh Thuận, huyện Vĩnh Thạnh, Bình Định năm 2007

Tên mô hình

Lượng đất xói mòn (kg/ha)

So với đối chứng %

Lượng dinh dưỡng mất đi (kg/ha/vụ)

Lượng phân bón tương đương mất đi (kg/ha/vụ)

Thành tiền (đồng)

N

P 2O 5

K 2O

urê

lân super

kali clorua

1. Sắn trồng thuần

6.550,0

100,0

 6,55

12,45

311.744

14,24

77,81

29,48

311.744

2. Đậu xanh xen sắn

5.605,0

85,6

5,61

10,65

266.732

12,20

66,56

25,22

266.732

Do phân tích hàm lượng dinh dưỡng đất trước khi triển khai mô hình nên đã xác định được tổn thất thành tiền do xói mòn đất. Mô hình trồng sắn thuần bị thiệt hại kinh tế do xói mòn là 311.744 đ/ha/năm, vượt hơn mô hình trồng đậu xanh xen sắn là 45.012 đ/ha/năm (14,4%).  Tuy nhiên, nếu tính toán hiệu quả kinh tế của mô hình thì lượng N,P,K mất đi trên ha trong một vụ là không lớn nhưng xét về tổng diện tích trồng sắn hằng năm của tỉnh đã tác động đến môi trường thì lượng đất mất đi và thiệt hại về kinh tế là rất lớn khó có thể bù đắp lại được.

4. Kết luận, đề nghị

+ Mô hình trồng đậu xanh xen sắn có năng suất 31,5 tấn/ha và tăng 20,92% so với sắn trồng thuần. Lãi ròng của mô hình trồng đậu xanh xen sắn có bón phân tăng hơn trồng sắn xen đậu xanh không bón phân là 5.245.000 đ/ha (tăng gấp 1,64 lần). Trong điều kiện người dân ít vốn, không đầu tư phân bón nhưng với mô hình đậu xanh xen sắn vẫn cho lãi ròng gấp 1,50 lần so với trồng thuần sắn.

+ Khi áp dụng biện pháp trồng đậu xanh xen sắn đều có lượng đất mất đi giảm hơn so với sắn trồng thuần 14,42%.

+ Đề nghị áp dụng mô hình đậu xanh xen sắn có điều kiện tương tự ở các vùng đất dốc trong tỉnh.

Nguồn: hoinongdan.org.vn (17/03/08)

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Bí thư Châu Văn Minh dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ và tặng quà gia đình chính sách tại Quảng Trị
Nhân kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026), ngày 13/7, GS.VS Châu Văn Minh, Bí thư Đảng ủy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã dẫn đầu Đoàn công tác đến dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ tại tỉnh Quảng trị và thăm hỏi, tặng quà các gia đình chính sách, người có công với cách mạng có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn.
Tạp chí Việt Nam Hội nhập đạt chuẩn Tạp chí khoa học năm 2026
Vừa qua, Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Quyết định số 2244/QĐ-BKHCN và Quyết định 2823/QĐ-BKHCN để công bố danh mục tạp chí đạt tiêu chuẩn khoa học Việt Nam năm 2026. Sự kiện này đánh dấu một bước tiến quan trọng trong quá trình chuẩn hóa hệ thống xuất bản học thuật nước nhà, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về chất lượng nghiên cứu, phản biện và các chuẩn mực công bố khoa học hiện đại.
Viện Chính sách, Pháp luật và Quản lý khẳng định vị thế là một tổ chức khoa học uy tín
Trong bối cảnh đất nước đang đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hoàn thiện thể chế phát triển và thúc đẩy đổi mới sáng tạo, hoạt động nghiên cứu khoa học về chính sách, pháp luật và khoa học quản lý ngày càng giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp luận cứ khoa học phục vụ quá trình hoạch định chủ trương, chính sách, cũng như hoàn thiện hệ thống pháp luật.
Đắk Lắk: Mở ra không gian phát triển, nhiều tiềm năng cho đội ngũ trí thức khoa học
Việc hợp nhất tỉnh Đắk Lắk và Phú Yên đã mở ra không gian phát triển mới với nhiều tiềm năng về kinh tế, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Trong bối cảnh khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực quan trọng của tăng trưởng, phát huy vai trò đội ngũ trí thức KH&CN là yêu cầu cấp thiết, tạo nền tảng cho sự phát triển nhanh, bền vững của tỉnh Đắk Lắk.
Nghị quyết 57/NQ-TW: Đột phá là đời sống của người dân được cải thiện rõ rệt hơn
Mọi hệ thống số, cơ sở dữ liệu và nền tảng số phải được thiết kế theo yêu cầu an toàn, an ninh ngay từ đầu; coi đào tạo kỹ năng số, năng lực đổi mới sáng tạo và ứng dụng AI là nhiệm vụ lâu dài. Khi những điều đó được thực hiện đồng bộ, Nghị quyết 57/NQ-TW sẽ tạo nền tảng quan trọng để Việt Nam bứt phá.
Thanh Hoá: Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 2026
Ngày 10/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Thanh Hóa (Liên hiệp hội) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành mở rộng lần thứ VII, khoá VII, nhiệm kỳ 2024 - 2029; sơ kết 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026.
Lâm Đồng: Kết nối sức mạnh - Khơi thông nguồn lực phát triển năng lượng tái tạo
Chiều ngày 09/7, tại Đà Lạt, Hiệp hội Điện gió và Mặt trời tỉnh Lâm Đồng (Hội thành viên Liên hiệp Hội) tổ chức Hội nghị thường niên năm 2026 nhằm đánh giá kết quả hoạt động năm 2025 và 6 tháng đầu năm 2026, đồng thời đề ra phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm cho 6 tháng cuối năm.
Liên hiệp Hội tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Trị tăng cường trao đổi kinh nghiệm
Chiều ngày 09/7, Đoàn công tác Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (LHH) tỉnh Quảng Trị do Tiến sĩ Trần Văn Tuân – Chủ tịch Liên hiệp Hội làm Trưởng đoàn đã có buổi thăm, làm việc và trao đổi kinh nghiệm tại LHH tỉnh Hà Tĩnh. Tiếp và làm việc với đoàn có Tiến sĩ Bùi Khắc Bằng – Chủ tịch LHH tỉnh Hà Tĩnh cùng đại diện các ban chuyên môn.
Đắk Lắk: Liên hiệp hội sơ kết công tác 6 tháng đầu năm
Chiều ngày 09/7, Liên hiệp hội tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) nhằm sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và triển khai phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026; đồng thời cho ý kiến đối với các nội dung chuẩn bị Đại hội Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031.