Cảnh báo sự quay trở lại của tình trạng thiếu I ốt
I ốt là một vi chất dinh dưỡng,chỉ cần lượng rất nhỏ, nhưng nếu thiếu sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển cơ thể. Cơ thể sử dụng I ốt để tổng hợp hormon tuyến giáp. Ở vùng thiếu I ốt, sự giảm tổng hợp hormon tuyến giáp gây ảnh hưởng đến sự phát triển cả thể chất và tinh thần của người sống trong vùng. Bướu cổ và đần độn là hai biểu hiện thường gặp nhất liên quan đến thiếu I ốt. Bướu cổ có thể xuất hiện ở bất kỳ giai đoạn nào trong cuộc đời, đần độn có thể từ giai đoạn bào thai nếu người mẹ thiếu I ốt nặng. Các biểu hiện này chỉ là phần nổi của tảng băng chìm, vì thế thuật ngữ “các rối loạn thiếu I ốt” mô tả đầy đủ hơn tác hai do thiếu I ốt như: các khuyết tật về thần kinh, tâm thần; suy giảm hoạt động chức năng hệ thần kinh, giảm sự phát triển hệ thần kinh của bào thai, trẻ nhỏ.
Trẻ em và phụ nữ tuổi sinh sảncó nguy cơ cao bị thiếu I ốt và hậu quả do thiếu I ốt ở hai đối tượng này rất nghiêm trọng, vì hormon tuyến giáp cần thiết cho sự phát triển của bào thai và trẻ em. Sự hư hại thần kinh ở bào thai và trẻ nhỏ do thiếu I ốt nặng và kéo dài là hậu quả không thể sửa chữa được.
Trên thế giớicó khoảng 1,6 tỷ người sống trong vùng thiếu I ốt, tỷ lệ bướu cổ toàn cầu ước tính khoảng 12%, tương đương khoảng 655 triệu người. Số người mắc bướu cổ nhiều nhất ở châu Á, châu Phi, vùng Đông Nam Á có 486 triệu người sống trong vùng có nguy cơ thiếu I ốt, trong đó khoảng 175 triệu người bướu cổ, chiếm 26,7% số người bị bướu cổ trên thế giới.
![]() |
Tại Việt Nam, năm 1993, được sự hỗ trợ của UNICEF và tổ chức CEMUBAC, bệnh viện Nội tiết đã tiến hành điều tra bướu cổ trẻ em từ 8 – 12 tuổi, kết quả cho thấy: tỷ lệ bướu cổ toàn quốc là 22,4%; 94% dân số nằm trong vùng có thiếu hụt I ốt, mức I ốt niệu trung vị là 32 microgram/ lít (dưới 50 mcg/ lít là rất thấp). Vì thế năm 1994, Chính phủ đã ra quyết định 481 TTg và năm 1995, Dự án phòng chống bướu cổ chính thức được thành lập, triển khai trên toàn quốc với nhiệm vụ chủ yếu là vận động toàn dân mua và sử dụng muối I ốt để phòng chống các rối loạn do thiếu I ốt. Để hỗ trợ cho dự án, Chính phủ đã ra Nghị định 19/1999 về muối I ốt, trong đó quy định bắt buộc tất cả muối dùng cho người ăn và dùng trong chế biến thực phẩm là muối I ốt.
Kết quả:tỷ lệ phủ muối I ốt đủ tiêu chuẩn phòng bệnh ngày một tăng, tỉ lệ bướu cổ học sinh từ 8 – 12 tuổi giảm xuống còn 14,9% năm 1998, 10,2% năm 2000; 6,1% năm 2003 và 3,6% năm 2005.
Năm 2005,xét trên bình diện cả nước với các chỉ số theo quy ước quốc tế, Việt Nam đã cơ bản thanh toán được rối loạn thiếu I ốt.
Tuy nhiên, nguồn cung cấp I ốt cho cơ thể phải thường xuyên, nếu ngưng cung cấp sẽ thiếu hụt. năm 2007,UNICEF đã hỗ trợ điều tra giám sát canh chừng với mẫu nhỏ, tại 14 tỉnh – thành phố đại diện cho 7 vùng sinh thái, cho kết quả:
- Độ bao phủ muối I ốt đủ tiêu chuẩn phòng bệnh có xu hướng giảm:88,6% năm 2007 so với 93,2% năm 2005, giảm mạnh nhất là ở các tỉnh phía Nam như TP Hồ Chí Minh 46,4% năm 2007 so với 66,7% năm 2005.
- Mức I ốt niệu trung vị(*) cũng có xu hướng giảm ở hầu hết các tỉnh. Đặc biệt, tại tỉnh Đồng Tháp, 82% thai phụ bị thiếu I ốt, trong đó 44% thiếu ở mức độ trung bình và nặng.
Như vậy chỉ sau 2 năm kết thúc dự án mục tiêu quốc gia, tình hình thiếu hụt I ốt có xu hướng quay trở lại, nghiêm trọng ở khu vực miền Đông và Tây Nam bộ.
- Vào tháng 9 và 10 năm 2008,một điều tra được tiến hành tại 20 tỉnh khu vực miền Đông Nam bộ, miền Tây Nam bộ và TP Hồ Chí Minh nhằm phân tích thực trạng thu nhận I ốt phụ nữ mang thai và không mang thai.
- Tỷ lệ phủ muối I ốt giảm mạnh ở cả 3 vùng:
Miền Đông Nam bộ xuống còn 83,7%.
Miền Tây Nam bộ xuống còn 74,8%.
TP Hồ Chí Minh xuống còn 54,2%.
- Tình hình thu nhận I ốt giảm mạnh ở cả 3 vùng:Biểu hiện bằng I ốt niệu trung vị, ở:
Miền Đông Nam bộ từ 99 mcg/ lít giảm xuống còn 73 mcg/ lít.
TP Hồ Chí Minh từ 95 mcg/ lít xuống còn 56 mcg/ lít.
Miền Tây Nam bộ từ 78 mcg/ lít xuống còn 57,5 mcg/ lít.
- Tình hình thu nhận I ốt ở phụ nữ có thai:
Miền Đông Nam bộ: I ốt niệu trung vị là 60 mcg/ lít; 72,8% bị thiếu I ốt, trong đó 42,5% thiếu ở mức độ trung bình đến nặng.
TP Hồ Chí Minh: I ốt niệu trung vị là 51,5% mcg/ lít; 76,5% bị thiếu I ốt trong đó 50% thiếu ở mức trung bình đến nặng.
Miền Tây Nam bộ: I ốt niệu trung vị là 53 mcg/ lít; 81,6% thiếu I ốt trong đó 42,6% thiếu ở mức độ trung bình đến nặng.
- Phụ nữ độ tuổi sinh đẻlà đối tượng đặc biệt nhạy cảm với sự thiếu hụt I ốt. Khi mang thai, nhu cầu I ốt tăng lên để đáp ứng cho cả nhu cầu hormon tuyến giáp của mẹ và sự phát triển của bào thai. Khi mẹ thiếu I ốt, dẫn đến thiếu hormon tuyến giáp, sự phát triển của bào thai bị ảnh hưởng nghiêm trọng, đặc biệt là bộ não của thai nhi. Người ta nhận thấy: thai phụ thiếu I ốt từ mức độ trung bình đến nặng có thể sinh con chậm phát triển trí tuệ, thậm chí đần độn và mang khuyết tật.
Vì tầm quan trọng và nhạy cảm của thiếu I ốt đối với bà mẹ đang mang thai, nuôi con bú, WHO/ UNICEF/ ICCIDD khuyến cáo cần có giải pháp tạm thời để bảo vệ nhóm bà mẹ mang thai khi phát hiện mức I ốt niệu dưới 50 mcg/ lít là cung cấp I ốt bổ sung dạng viên nang.
(*) Mức I ốt trung vị là số trung bình của I ốt/ nước tiểu tính trên quần thể dân số của một vùng. Chỉ số này để đánh giá mức thu nhận I ốt của người dân trong vùng. Đo I ốt của từng cá nhân không có ý nghĩa.









