Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 07/04/2010 07:00 (GMT+7)

Cảnh báo sự quay trở lại của tình trạng thiếu I ốt

I ốt là một vi chất dinh dưỡng,chỉ cần lượng rất nhỏ, nhưng nếu thiếu sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển cơ thể. Cơ thể sử dụng I ốt để tổng hợp hormon tuyến giáp. Ở vùng thiếu I ốt, sự giảm tổng hợp hormon tuyến giáp gây ảnh hưởng đến sự phát triển cả thể chất và tinh thần của người sống trong vùng. Bướu cổ và đần độn là hai biểu hiện thường gặp nhất liên quan đến thiếu I ốt. Bướu cổ có thể xuất hiện ở bất kỳ giai đoạn nào trong cuộc đời, đần độn có thể từ giai đoạn bào thai nếu người mẹ thiếu I ốt nặng. Các biểu hiện này chỉ là phần nổi của tảng băng chìm, vì thế thuật ngữ “các rối loạn thiếu I ốt” mô tả đầy đủ hơn tác hai do thiếu I ốt như: các khuyết tật về thần kinh, tâm thần; suy giảm hoạt động chức năng hệ thần kinh, giảm sự phát triển hệ thần kinh của bào thai, trẻ nhỏ.

Trẻ em và phụ nữ tuổi sinh sảncó nguy cơ cao bị thiếu I ốt và hậu quả do thiếu I ốt ở hai đối tượng này rất nghiêm trọng, vì hormon tuyến giáp cần thiết cho sự phát triển của bào thai và trẻ em. Sự hư hại thần kinh ở bào thai và trẻ nhỏ do thiếu I ốt nặng và kéo dài là hậu quả không thể sửa chữa được.

Trên thế giớicó khoảng 1,6 tỷ người sống trong vùng thiếu I ốt, tỷ lệ bướu cổ toàn cầu ước tính khoảng 12%, tương đương khoảng 655 triệu người. Số người mắc bướu cổ nhiều nhất ở châu Á, châu Phi, vùng Đông Nam Á có 486 triệu người sống trong vùng có nguy cơ thiếu I ốt, trong đó khoảng 175 triệu người bướu cổ, chiếm 26,7% số người bị bướu cổ trên thế giới.

Tại Việt Nam, năm 1993, được sự hỗ trợ của UNICEF và tổ chức CEMUBAC, bệnh viện Nội tiết đã tiến hành điều tra bướu cổ trẻ em từ 8 – 12 tuổi, kết quả cho thấy: tỷ lệ bướu cổ toàn quốc là 22,4%; 94% dân số nằm trong vùng có thiếu hụt I ốt, mức I ốt niệu trung vị là 32 microgram/ lít (dưới 50 mcg/ lít là rất thấp). Vì thế năm 1994, Chính phủ đã ra quyết định 481 TTg và năm 1995, Dự án phòng chống bướu cổ chính thức được thành lập, triển khai trên toàn quốc với nhiệm vụ chủ yếu là vận động toàn dân mua và sử dụng muối I ốt để phòng chống các rối loạn do thiếu I ốt. Để hỗ trợ cho dự án, Chính phủ đã ra Nghị định 19/1999 về muối I ốt, trong đó quy định bắt buộc tất cả muối dùng cho người ăn và dùng trong chế biến thực phẩm là muối I ốt.

Kết quả:tỷ lệ phủ muối I ốt đủ tiêu chuẩn phòng bệnh ngày một tăng, tỉ lệ bướu cổ học sinh từ 8 – 12 tuổi giảm xuống còn 14,9% năm 1998, 10,2% năm 2000; 6,1% năm 2003 và 3,6% năm 2005.

Năm 2005,xét trên bình diện cả nước với các chỉ số theo quy ước quốc tế, Việt Nam đã cơ bản thanh toán được rối loạn thiếu I ốt.

Tuy nhiên, nguồn cung cấp I ốt cho cơ thể phải thường xuyên, nếu ngưng cung cấp sẽ thiếu hụt. năm 2007,UNICEF đã hỗ trợ điều tra giám sát canh chừng với mẫu nhỏ, tại 14 tỉnh – thành phố đại diện cho 7 vùng sinh thái, cho kết quả:

- Độ bao phủ muối I ốt đủ tiêu chuẩn phòng bệnh có xu hướng giảm:88,6% năm 2007 so với 93,2% năm 2005, giảm mạnh nhất là ở các tỉnh phía Nam như TP Hồ Chí Minh 46,4% năm 2007 so với 66,7% năm 2005.

- Mức I ốt niệu trung vị(*) cũng có xu hướng giảm ở hầu hết các tỉnh. Đặc biệt, tại tỉnh Đồng Tháp, 82% thai phụ bị thiếu I ốt, trong đó 44% thiếu ở mức độ trung bình và nặng.

Như vậy chỉ sau 2 năm kết thúc dự án mục tiêu quốc gia, tình hình thiếu hụt I ốt có xu hướng quay trở lại, nghiêm trọng ở khu vực miền Đông và Tây Nam bộ.

- Vào tháng 9 và 10 năm 2008,một điều tra được tiến hành tại 20 tỉnh khu vực miền Đông Nam bộ, miền Tây Nam bộ và TP Hồ Chí Minh nhằm phân tích thực trạng thu nhận I ốt phụ nữ mang thai và không mang thai.

- Tỷ lệ phủ muối I ốt giảm mạnh ở cả 3 vùng:

Miền Đông Nam bộ xuống còn 83,7%.

Miền Tây Nam bộ xuống còn 74,8%.

TP Hồ Chí Minh xuống còn 54,2%.

- Tình hình thu nhận I ốt giảm mạnh ở cả 3 vùng:Biểu hiện bằng I ốt niệu trung vị, ở:

Miền Đông Nam bộ từ 99 mcg/ lít giảm xuống còn 73 mcg/ lít.

TP Hồ Chí Minh từ 95 mcg/ lít xuống còn 56 mcg/ lít.

Miền Tây Nam bộ từ 78 mcg/ lít xuống còn 57,5 mcg/ lít.

- Tình hình thu nhận I ốt ở phụ nữ có thai:

Miền Đông Nam bộ: I ốt niệu trung vị là 60 mcg/ lít; 72,8% bị thiếu I ốt, trong đó 42,5% thiếu ở mức độ trung bình đến nặng.

TP Hồ Chí Minh: I ốt niệu trung vị là 51,5% mcg/ lít; 76,5% bị thiếu I ốt trong đó 50% thiếu ở mức trung bình đến nặng.

Miền Tây Nam bộ: I ốt niệu trung vị là 53 mcg/ lít; 81,6% thiếu I ốt trong đó 42,6% thiếu ở mức độ trung bình đến nặng.

- Phụ nữ độ tuổi sinh đẻlà đối tượng đặc biệt nhạy cảm với sự thiếu hụt I ốt. Khi mang thai, nhu cầu I ốt tăng lên để đáp ứng cho cả nhu cầu hormon tuyến giáp của mẹ và sự phát triển của bào thai. Khi mẹ thiếu I ốt, dẫn đến thiếu hormon tuyến giáp, sự phát triển của bào thai bị ảnh hưởng nghiêm trọng, đặc biệt là bộ não của thai nhi. Người ta nhận thấy: thai phụ thiếu I ốt từ mức độ trung bình đến nặng có thể sinh con chậm phát triển trí tuệ, thậm chí đần độn và mang khuyết tật.

Vì tầm quan trọng và nhạy cảm của thiếu I ốt đối với bà mẹ đang mang thai, nuôi con bú, WHO/ UNICEF/ ICCIDD khuyến cáo cần có giải pháp tạm thời để bảo vệ nhóm bà mẹ mang thai khi phát hiện mức I ốt niệu dưới 50 mcg/ lít là cung cấp I ốt bổ sung dạng viên nang.

(*) Mức I ốt trung vị là số trung bình của I ốt/ nước tiểu tính trên quần thể dân số của một vùng. Chỉ số này để đánh giá mức thu nhận I ốt của người dân trong vùng. Đo I ốt của từng cá nhân không có ý nghĩa.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

GS.TSKH Nguyễn Đức Cương: Khoa học là một hành trình dài và không phải lúc nào cũng có kết quả ngay
Sinh năm 1945 tại Huế, ông là nhà khoa học hàng đầu về hàng không - vũ trụ của Việt Nam, đã có hơn nửa thế kỷ cống hiến cho ngành khoa học kỹ thuật hàng không vũ trụ. Không chỉ là người đặt nền móng cho các sản phẩm bay tiết kiệm chi phí cho Việt Nam, ông còn là người thầy tâm huyết, truyền cảm hứng và kiến thức cho nhiều thế hệ, góp phần đưa ngành hàng không Việt Nam đạt được những bước tiến mới.
Đắk Lắk: Ứng dụng AI “nghe” độ chín sầu riêng
TS. Lê Minh Tân và CN. Hoàng Ngọc Trung Nguyên (Trường Đại học Tây Nguyên) đã nghiên cứu thành công giải pháp: “Máy phân loại quả sầu riêng theo độ chín sử dụng AI phân tích âm thanh”. Giải pháp này đã đọat giải Nhì Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (2024-2025) khu vực phía Tây.
Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị quán triệt và triển khai Nghị quyết 10-NQ/TW
Sáng 30/6, tại Hà Nội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Ban biên tập vusta.vn trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị.
Một năm chính quyền địa phương hai cấp: Nhìn từ chiều sâu văn hóa làng xã
Một năm thực hiện chính quyền địa phương hai cấp không chỉ là câu chuyện về tinh gọn bộ máy, tổ chức lại địa giới hành chính màcòn là phép thử về năng lực quản trị những giá trị mềm: tên làng, ký ức cộng đồng, di sản, thiết chế văn hóa, không gian tín ngưỡng và cảm giác thuộc về của người dân.
Hội nghị AFEO Midterm 2026
Ngày 30/6, tại Yangon, Myanmar, Liên đoàn các tổ chức kỹ sư ASEAN (AFEO) chính thức khai mạc phiên toàn thể Hội nghị giữa kỳ lần thứ 25. Đây là diễn đàn thường niên được tổ chức nhằm để các nhà khoa học, các kỹ sư, các chuyên gia cùng chia sẻ, thảo luận các giải pháp trong việc xây dựng một tương lai bền vững cho khu vực ASEAN.
Lào Cai: 118 hộ đồng bào dân tộc thiểu số hưởng lợi từ mô hình cấp nước tự quản
Sau gần một năm triển khai, Dự án “Hỗ trợ nước sinh hoạt cải thiện chất lượng cuộc sống cho cộng đồng dân tộc thiểu số thôn 4, xã Khánh Hòa, tỉnh Lào Cai” do Trung tâm Hỗ trợ phát triển bền vững cộng đồng các dân tộc miền núi (SUDECOM) thực hiện đã hoàn thành mục tiêu, đánh dấu một mô hình điểm về quản lý, vận hành hệ thống cấp nước dựa vào cộng đồng, nâng cao chất lượng cuộc sống cho 118 hộ dân.