Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 26/04/2006 23:09 (GMT+7)

Cảnh báo đỏ từ đàn voi

Những con số lùi

Voi đã gắn liền với công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước hàng nghìn năm. Nhưng chỉ đến sau ngày thống nhất đất nước, chúng ta mới thống kê được đầy đủ về số lượng voi.

Trong giai đoạn từ 1975 đến 1980, ước tính số voi hoang dã khoảng 1.500 – 2.000 con. Chúng phân bố hầu khắp cả nước và góp phần tạo nên tính đa dạng sinh học của thiên nhiên ViệtNam. Nhưng kể từ năm 1980 trở đi, đàn voi giảm đi nhanh chóng. Hàng ngàn ha rừng bị phá khiến môi trường sống của voi bị hủy diệt hoặc bị thu hẹp. Tập tính sinh học của voi bị rối loạn, ảnh hưởng lớn đến sinh sản phát triển cá thể và quần thể voi.

Bên cạnh đó là nạn săn bắt voi để lấy ngà, da, vòi, răng, xương..., là những cuộc xung đột voi - người. Các hoạt động buôn bán, vận chuyển động vật hoang dã (trong đó có voi) sang các nước khác qua đường biên giới đang tăng lên bởi những nơi có voi thường ở gần đường biên giới với nước bạn Lào, Campuchia.

Tất cả những điều đó cộng thêm sự phong phú về thế hệ giảm sút dẫn tới hệ quả tất yếu là đàn voi không những không sinh sản, không tăng thêm mà giảm đi vùn vụt. Con số 1.500 năm 1980 giảm xuống nhanh chóng còn 400 con năm 1992 – 250 con năm 1995 – 160 con năm 1997. Hiện tại, số lượng ước còn 76 con.

Số vùng phân bố chỉ trong vòng 30 năm qua đã giảm đi hơn 50% với 14 khu vực được xác định là có voi sinh sống. Chúng sống phân tán, xé lẻ thành nhiều nhóm, đàn nhỏ và thường xuyên bị đe doạ tuyệt chủng.

Voi lẻ đàn – nguyên nhân và hậu quả

Câu trả lời gần như đã có sẵn. Theo thống kê của các nhà khoa học thì voi ViệtNamtập trung ở hầu khắp các tỉnh Tây Nguyên. Với tốc độ phá rừng xâm hại rừng, số lượng voi ngày một giảm là tất yếu. Chỉ trong vòng ba tháng đầu năm nay, diện tích rừng bị phá tại Đồng Nai là 70ha và tại Đắc Nông là 59ha. Đây chính là những nơi tập trung nhiều voi nhất ở ViệtNam. Rừng – mái nhà muôn thuở của chúng bị phá vỡ do nguồn lợi từ rừng và cả những nguồn lợi từ chính voi. Khi sự sống bị đe dọa, bằng bản năng của mình, voi đã buộc phải tự vệ: di chuyển khỏi nơi nguy hiểm và sẵn sàng tấn công bất cứ ai có khả năng tấn công chúng.

Tính đến năm 2005, cả nước có tới chín khu vực xung đột trên tổng số 14 vùng có voi phân bố. Nghiêm trọng nhất là tại tỉnh Đồng Nai từ 1993-1998 đã có 12  người chết và ở Tánh Linh (Bình Thuận) là 13 người chết.

Tại những nơi còn in dấu chân voi rừng, nhiều người chủ gia đình nghèo và nheo nhóc mãi mãi chia lìa vợ con sau khi voi nổi xung và tấn công người. Ngày6-8-2003, vợ chồng anh chị Lê Thành Trung (xã Tiên Ngọc, huyện Tiên Phước) đang ngủ say thì có tiếng đụng mạnh phía trước nhà. Cả hai vợ chồng cùng thức dậy. Vợ soi đèn còn người chồng bước ra ngoài kiểm tra. Anh Trung đã bước ra mà không bao giờ trở lại với vợ con nữa. Người vợ chỉ kịp nghe thấy tiếng la thất thanh “Ông bồ, ông bồ tới” (ông bồ: voi) rồi tắt lịm. Chỉ đến khi trời sáng, sau khi con voi hung dữ đã đi khỏi, người ta mới dám tìm kiếm nạn nhân. Anh đã bị voi quật ngã, dẫm nát người và đạp lên đầu, tay làm anh chết tại chỗ.

Ngày 22-6-2004, tại tỉnh miền núi phía bắc Sơn La, voi đã xuất hiện và di chuyển từ xã Chiềng Cang huyện Sông Mã sang xã Phiềng Cằm, huyện Mai Sơn. Do hiếu kỳ, rất nhiều người dân quanh khu vực đã đến xem voi, có người mang cả chó săn đi theo. Bị kích động, voi đã nổi xung, dẫm chết ông Phàng A Thênh (dân tộc Mông).

Khảo sát những vùng được cho là có voi, chúng tôi được biết voi là loài thú hiền lành và rất dễ gần với người. Các nhà khoa học cũng đồng tình với điều này. Thậm chí chúng có thể đến sát người nhưng không tấn công.

Anh Trần Xuân Long, Trạm trưởng Trạm Kiểm lâm Phà Lài, vườn quốc gia Pù Mát (huyện Con Cuông, Nghệ An) cho biết: “Nhiều bữa anh em trực tại chòi canh trong rừng. Nửa đêm mở cửa lán là đụng ngay vòi voi đi qua. Thấy động là voi lánh ngay đi chỗ khác”. Như vậy, voi rất hiền và chúng chỉ nổi xung khi bị xâm phạm môi trường sống. Nhưng dù được xem như nơi sinh sống của voi ít bị xâm phạm nhất thì thời gian gần đây, vườn quốc gia Pù Mát cũng chứng kiến những hiện tượng khiến các nhà khoa học phải lưu tâm.

Ông Nguyễn Văn Diễn, Phó giám đốc vườn quốc gia cho biết, cuối tháng 3 vừa qua đã bắt gặp một đàn gồm bốn con voi không có ngà di chuyển trong rừng và vài ngày sau lại gặp một con voi cái đi lẻ đàn lại khu vực thác Kèm. Ở một số bản làng có hiện tượng voi về lùa trâu.

Tại vườn quốc gia Pù Mát, người viết bài này và cán bộ kiểm lâm quản lý khu rừng đã tận mắt chứng kiến những biển báo giao thông bị voi quật đổ bên lề đường vào thác Kèm. Thậm chí, biển báo hiệu cấp dự báo cháy rừng cũng bị voi vặn méo mó. Theo giải thích của những người có điều kiện ra vào nơi đây thì voi rất ghét sắt, thép, bê tông và chúng thường nhổ trong mỗi lần bắt gặp.

Vấn đề được đặt ra là đó có phải là bản tính của voi hay voi đang cảm thấy một mối nguy hiểm cận kề. Một điểm đáng lưu ý là loại thức ăn mà voi rất thích là củ chuối và lõi chuối thường bị người dân bản địa sử dụng làm thức ăn. Đây cũng có thể là nguyên nhân khiến voi phá biển giao thông.

Khẩn cấp xây dựng “những mái nhà yên bình”

Nếu không có biện pháp bảo vệ hữu hiệu thì chỉ trong 30 năm nữa, rừng ViệtNamsẽ vắng bóng voi. Để ngăn chặn kịp thời vòng tròn phá rừng – săn bắt – thiệt hại về người, của cải và số lượng voi suy giảm thì cần phải bảo vệ rừng, ngăn chặn tình trạng buôn bán trái phép và điều quan trọng là xây dựng được những khu bảo tồn cho voi. Đó là cách tốt nhất để duy trì và phát triển đàn voi hoang dã.

Ông Trần Thế Liên, Phó trưởng phòng Bảo tồn thiên nhiên - Cục Kiểm lâm cho biết Cục Kiểm lâm, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đang chuẩn bị đệ trình Chính phủ dự thảo Kế hoạch khẩn cấp bảo vệ voi với mục tiêu trước mắt là bảo vệ quần thể voi hiện có ở Việt Nam, tránh tình trạng xung đột voi - người, bảo vệ các cảnh quan vùng sinh cảnh nơi có voi đang sinh sống. Về lâu dài, cần bảo tồn, phát triển bền vững quần thể voi ở ViệtNam, bảo tồn toàn vẹn môi trường sống cho voi. Để bảo tồn loài voi có thể sử dụng hai biện pháp: bảo tồn chuyển chỗ và bảo tồn tại chỗ.

Biện pháp thứ nhất đã được áp dụng cho đàn voi ở Tánh Linh (Bình Thuận) nhưng đó là trong những trường hợp bất khả kháng khi voi đã mất vùng thức ăn – sinh sống. So với biện pháp thứ nhất thì biện pháp thứ hai - bảo tồn tại chỗ có hiệu quả hơn hẳn: giữ nguyên được vùng thức ăn – sinh sống của voi, tập trung được lượng voi với số lượng lớn với nhiều thế hệ, cá thể voi, tạo ra khả năng phát triển bền vững cho voi. Sử dụng biện pháp này cũng có thể tránh được khả năng đàn voi di chuyển từ cánh rừng này sang cánh rừng khác dẫn tới việc chúng di chuyển sang nước bạn (qua đường biên giới).

Tuy nhiên, để thực hiện biện pháp trên phải lựa chọn được một vùng thức ăn - sinh sống cho voi đáp ứng những điều kiện: số lượng cá thể trong quần thể voi phải từ 10-20 con và đàn voi phải có đầy đủ các thế hệ để bảo đảm cho sự sinh sản, diện tích vùng thức ăn – sinh sống phải đủ lớn.

Hiện các chuyên gia bảo tồn đã xác định được ba địa điểm có thể thiết lập vùng bảo tồn voi đặc biệt. Lớn nhất là vùng bảo tồn voi đặc biệt ở mảnh đất màu mỡ Tây Nguyên. Đây là nơi tập trung nhiều voi nhất ở ViệtNamvới hai quần chủng voi hoang dã đang sinh sống ở vùng rừng thuộc các huyện Đắc Min, Cư Zút, Buôn Đôn, Ea Súp (Đác Lắc).

Vì vậy, diện tích của vùng bảo tồn voi đặc biệt này (cho voi hoang dã và voi thuần dưỡng) sẽ là khoảng 250.000ha với trọng tâm là Vườn quốc gia Yok Đôn và có thể bao gồm thêm vùng Tiêu Tẹo (phía TâyNamtỉnh Gia Lai).

Vùng bảo tồn voi đặc biệt thứ hai ở vùng rừng tự nhiên tỉnh Đồng Nai. Hiện vùng này có khoảng 10 con voi sinh sống trong phạm vi hoạt động khá ổn định mà trọng tâm là vùng rừng thuộc Vườn quốc gia Cát Tiên, Khu dự trữ thiên nhiên Vĩnh Cửu với diện tích khoảng 160.000ha (cho voi hoang dã).

Còn lại là vùng bảo tồn voi đặc biệt ở vùng rừng Tây Nam tỉnh Nghệ An. Quần chủng voi ở đây khoảng 10 con nhưng chúng thường xuyên di chuyển giữa biên giới hai nước Việt – Lào. Do vậy vùng bảo tồn sẽ bao gồm giải rừng giáp biên giới thuộc các huyện Thanh Chương, Anh Sơn, Con Cuông, Tương Dương và sẽ có sự hợp tác quốc tế với Lào. Diện tích của vùng bảo tồn này sẽ chiếm khoảng 200.000ha (cho voi hoang dã).

Cả ba vùng đất trên đều có được những lợi thế để đáp ứng cho việc bảo tồn và phát triển đàn voi hoang dã ở ViệtNam: vùng sinh cảnh rộng lớn, nguồn thức ăn phong phú và thích hợp, có nguồn nước và nguồn muối khoáng tự nhiên cần thiết cho dinh dưỡng và sinh sản của voi. Chắc chắn đây sẽ là những mái nhà bình yên cho voi cư trú.

Voi nặng trung bình 3,5 - 5 tấn, có tuổi thọ 80-90 năm hoặc hơn nữa, chu kỳ sinh sản 4-5 năm mỗi lứa, thời gian mang thai 21-22 tháng, mỗi lần đẻ một con. Chúng từng sống rải rác ở Lai Châu, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Nam, Tây Nguyên, Bình Phước, Đồng Nai... nhưng hiện còn rất ít. Mức độ đe dọa tuyệt chủng bậc V.

Cùng là loài thú lớn ở ViệtNamnhư Voi có Tê giác và Heo vòi đã bị tuyệt chủng trong thế kỷ 20. Và hiện nay, không chỉ có Voi mà cả Tê giác một sừng, Bò xám, Hổ, Gà lôi lam trắng, Gà lôi lam màu đen, Gà lôi lam đuôi trắng, Cá sấu nước ngọt... cũng đang có nguy cơ bị tuyệt chủng.

Nguồn: nhandan.org.vn22/4/2006

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Đắk Lắk: Ths. Đoàn Văn Thanh và Ths. Lê Văn Dần được bầu giữ chức Phó Chủ tịch Liên hiệp Hội
Chiều ngày 26/3/ 2026, tại Hội trường cơ quan, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh (Liên hiệp Hội) Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) với ba nội dung: Thực hiện quy trình công tác cán bộ; Sơ kết công tác quý I, triển khai nhiệm vụ công tác quý II và Trao quyết định công nhận tổ chức thành viên mới.
Góc nhìn về 43 năm hình thành và phát triển của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam
Có những chặng đường không chỉ được đo bằng thời gian mà còn bằng sự tích lũy trí tuệ, niềm tin và trách nhiệm xã hội. 43 năm hình thành, phát triển, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam không chỉ là tổ chức tập hợp đội ngũ trí thức khoa học công nghệ mà còn là một không gian kết nối, nơi những ý tưởng được khơi nguồn, những sáng kiến được nâng đỡ và những giá trị tri thức được lan tỏa.
Gia Lai: Đánh giá kết quả bước đầu thực hiện Dự án Sa nhân tím
Ngày 25/3/2026, xã Bình Phú, tỉnh Gia Lai, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Gia Lai phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức Hội nghị sơ kết giữa kỳ Dự án “Hỗ trợ phát triển vùng nguyên liệu cây dược liệu sa nhân dưới tán rừng cho cộng đồng dân tộc thiểu số góp phần cải thiện sinh kế người dân, bảo tồn hệ sinh thái rừng, thích ứng biến đổi khí hậu tại xã Bình Phú, tỉnh Gia Lai”.
Hội Điều dưỡng Hải Phòng nâng cao chất lượng điều dưỡng, hướng tới sự hài lòng người bệnh
Ngày 25/3/2026, tại Bệnh viện Kiến An, Hội Điều dưỡng thành phố Hải Phòng tổ chức Đại hội Đại biểu lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031. Đại hội đánh dấu bước chuyển quan trọng sau khi hợp nhất Hội Điều dưỡng Hải Phòng và Hội Điều dưỡng Hải Dương trước đây, tạo nền tảng thống nhất, đồng bộ trong phát triển công tác điều dưỡng trên địa bàn thành phố.
Đảng ủy VUSTA trang trọng tổ chức Lễ trao tặng Huy hiệu Đảng và Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ (mở rộng)
Ngày 27/3, Đảng bộ Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) đã tổ chức Lễ trao tặng Huy hiệu Đảng đợt 03/02/2026 và Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ (mở rộng). Sự kiện không chỉ là dịp ghi nhận những cống hiến của các đảng viên lão thành mà còn là diễn đàn quan trọng đánh giá kết quả công tác Quý I, nhiệm vụ trọng tâm Quý II/2026 của Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam.
VUSTA kỷ niệm 43 năm Ngày thành lập, đánh dấu một hành trình kiến tạo và cống hiến bền bỉ
Chiều ngày 26/3, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã long trọng tổ chức Lễ kỷ niệm và chuỗi các hoạt động đặc biệt chào mừng kỷ niệm 43 năm Ngày thành lập (26/3/1983 - 26/3/2026). Sự kiện là dấu mốc ý nghĩa ghi dấu hành trình hơn bốn thập kỷ kiến tạo và cống hiến của VUSTA – ngôi nhà chung của đội ngũ trí thức KH&CN Việt Nam.
Bí thư Đảng uỷ VUSTA Châu Văn Minh thăm và làm việc với Quỹ Hỗ trợ Sáng tạo Kỹ thuật Việt Nam (VIFOTEC)
Chiều ngày 25/3, GS.VS. Châu Văn Minh – Đại biểu Quốc hội khóa XVI, Bí thư Đảng ủy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) dẫn đầu đoàn công tác đã đến thăm và làm việc với ban lãnh đạo cùng đội ngũ cán bộ, người lao động của Quỹ Hỗ trợ Sáng tạo Kỹ thuật Việt Nam (VIFOTEC).
Bài viết của Tổng Bí thư Tô Lâm: Thanh niên với tương lai đất nước
Ngày 26/3/2026 đánh dấu kỷ niệm tròn 95 năm ngày thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh (26/3/1931 - 26/3/2026). Đây là dịp để thế hệ trẻ ôn lại truyền thống vẻ vang và khẳng định trí tuệ, trách nhiệm và tinh thần đổi mới trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Nhân sự kiện trọng đại này, Tổng Bí thư Tô Lâm đã có bài viết với tiêu đề "Thanh niên với tương lai đất nước".
Xây dựng Cổng dữ liệu mở VUSTA: Từ "lưu trữ" đến "tạo giá trị"
Sáng ngày 24/3, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã tổ chức Hội thảo “Góp ý cho Cổng dữ liệu mở của VUSTA”. Hội thảo là bước đi chiến lược của VUSTA trong việc hiện thực hóa mục tiêu xây dựng hệ sinh thái dữ liệu dùng chung, hướng tới nền tảng tri thức số quốc gia.