Cặn váng sữa dùng cho heo con
Cặn váng sữa là gì?
Phụ phẩm chính của ngành công nghiệp phó-mát là váng sữa. Khi váng sữa được cho qua một quá trình siêu lọc thì phần giàu lactose được gọi là cặn váng sữa được tách khỏi phần giàu đạm gọi là váng sữa cao đạm hay váng sữa ly trích.
Bột váng sữa sấy khô phân hạng thực phẩm được sử dụng rộng rãi làm nguồn đường sữa (lactose) và đạm sữa (lactabumin và lactoglubulin) để dùng trong các khẩu phần của heo con sau cai sữa. Sự gia tăng sử dụng các loại bột váng sữa trong sản phẩm thực phẩm của người và bổ sung dinh dưỡng cho vận động viên đã làm gia tăng nhu cầu về váng sữa và kết quả là gây ra thiếu hụt lượng sản phẩm dùng trong khẩu phần của thú nông nghiệp. Đã có các nguồn khác thay thế cho lactose và đạm sữa thiếu hụt này.
Sự sử dụng đường latose thuần làm nguyên liệu thức ăn đã làm tăng nhu cầu về sản phẩm này và cũng làm tăng giá trên thị trường. Khi dùng latose làm nguyên liệu thức ăn sẽ cần thêm các nguồn đạm từ sữa và thường những thứ này được cung cấp từ váng sữa cao đạm.
Cặn váng sữa là nguồn lactose tốt và đây là lý do chính nó được xem là nguyên liệu thay thế cho váng sữa hoặc lactose trong thức ăn. Cặn váng sữa cũng có hàm lượng năng lượng khá và cung cấp nhiều canxi và photpho dễ tiêu hoá vì có nguồn gốc từ sữa. Heo cai sữa cần lactose
Nhiều thử nghiệm đã được thực hiện để xác định nhu cầu lactose tối ưu của heo cai sữa. Điều quan trọng là xác định nhu cầu này trong tất cả các thời kỳ của giai đoạn tăng trưởng heo con. Sức tăng trưởng tối ưu đạt được khi sử dụng 20% pha 1; 15% trong pha 2 và 5% lactose trong pha 3 và không cần sử dụng trong pha 4 (Allee và CS., 2006 - bảng 2). Số lượng mỗi loại sản phẩm sữa cần thiết để thỏa mãn mức lactose theo khuyến cáo được trình bày trong bảng 3. Cần số lượng tương đương cặn váng sữa và lactose nguyên liệu để đáp ứng nhu cầu lactose nhưng lượng cặn váng sữa cần này ít hơn nếu dùng váng sữa để cung cấp lactose. Các mức sử dụng này đáp ứng nhu cầu lactose trong khẩu phần nhưng điều quan trọng sống còn là khi thay thế các bột váng sữa thì vẫn phải duy trì mức năng lượng, protein và lysine đầy đủ. Khi tổ hợp khẩu phần với các sản phẩm sữa khác nhau thì phải đáp ứng tiêu chuẩn của tất cả các dưỡng chất bằng cách dùng những loại protein váng sữa khác và nếu không có thì phải dùng các protein động vật hoặc thực vật khác để thay thế. Kết quả thử nghiệmThử nghiệm 1: Đại học Kansas State , Mỹ (kết quả từ 0 – 35 ngày sau cai sữa). ![]()
Không có các khác biệt về các chỉ tiêu tăng trưởng. Kết luận là có thể dùng cặn váng sữa để thay cho tất cả các lactose bình thường được cung cấp từ nguồn váng sữa hoặc lactose tinh thể. Thử nghiệm 2: Đại học Khon Kaen, Thailand(kết quả từ 0 – 35 ngày sau cai sữa). ![]()
Bột váng sữa có vẻ cho kết quả tốt hơn các nghiệm thức dùng cặn váng sữa. Điều này chứng tỏ rằng khi sử dụng các sản phẩm sữa khác để thay thế váng sữa hay lượng lactose của váng sữa thì điều quan trọng sống còn là cũng phải cân đối protein / lysine bằng các nguồn protein hoặc protein động vật tiêu hoá tốt chứ không thể chỉ đơn giản sử dụng protein thực vật từ những nguồn tiêu hóa kém (Sở thú non – ND) như là khô dầu đầu nành. Thử nghiệm 3: Đại học Missouri , Hoa Kỳ (kết quả trong 0 – 35 ngày sau cai sữa). ![]()
Cặn váng sữa dưới dạng DairyLac 80 có thể thay thế lactose trong bột váng sữa nhưng cần điều chỉnh mức protein / lysine. Các protein chức năng ở dạng lactoferrin và lactoperoxidase có thể tạo ra hệ số chuyển hoá thức ăn tốt hơn một chút khi sử dụng bột váng sữa. Thử nghiệm 4: Đại học Kentucky , Hoa Kỳ (kết quả ở 0 – 28 ngày sau cai sữa) 118 heo cai sữa ở 28 ngày được sử dụng trong thử nghiệm này. Sử dụng khẩu phần căn bản là bắp và khô dầu đậu nành để xem có thể dùng cặn váng sữa (DairyLac 80, International Ingredient Corporation) thay thế cho lactose tinh thể. Khẩu phần này chứa 20% cặn váng sữa có 16% lactose tinh thể. Cặn váng sữa (DairyLac 80, International Ingredient Corporation - Tổ hợp nguyên liệu quốc tế) cho thấy một sự tiêu thụ thức ăn trung bình và tăng trọng hàng ngày cao hơn so với dùng lactose tinh thể. Điều này là do lactose trong DairyLac 80® là ở dạng beta (β) nên có độ ngọt cao hơn dạng alpha (α) như lactose tinh thể. Kết luậnCặn váng sữa có thể được dùng làm sản phẩm cung cấp lactose thay cho bột váng sữa. Cặn váng sữa chứa ít protein và vì vậy cần dùng thêm các nguồn protein khác để duy trì mức protein / lysine bình thường trong khẩu phần như khi dùng bột váng sữa. Protein váng sữa là các nguồn lý tưởng, nhưng nếu không có sẵn thì cũng có thể dùng các loại protein dễ tiêu hóa từ động vật hoặc thực vật.
|

Cặn váng sữa là nguồn lactose tốt và đây là lý do chính nó được xem là nguyên liệu thay thế cho váng sữa hoặc lactose trong thức ăn. Cặn váng sữa cũng có hàm lượng năng lượng khá và cung cấp nhiều canxi và photpho dễ tiêu hoá vì có nguồn gốc từ sữa.
Nhiều thử nghiệm đã được thực hiện để xác định nhu cầu lactose tối ưu của heo cai sữa. Điều quan trọng là xác định nhu cầu này trong tất cả các thời kỳ của giai đoạn tăng trưởng heo con. Sức tăng trưởng tối ưu đạt được khi sử dụng 20% pha 1; 15% trong pha 2 và 5% lactose trong pha 3 và không cần sử dụng trong pha 4 (Allee và CS., 2006 - bảng 2).
Số lượng mỗi loại sản phẩm sữa cần thiết để thỏa mãn mức lactose theo khuyến cáo được trình bày trong bảng 3. 









