Cần có một nơi yên nghỉ xứng đáng với các liệt sĩ trong vụ “Hà Thành đầu độc”
Đời người coi nhẹ rác rơm,
Trăm nghìn phó một lưỡi gươm cho rồi.
Khen cho liệt sĩ bốn người
Một lòng vì nước muôn đời tiếng thơm.
“Liệt sĩ bốn người” ở đây chính là bốn người cầm đầu trong vụ động, đã bị giặc Pháp xử tử và đều là hạ sĩ quan trong quân đội Pháp: Nguyễn Chí Bình, Nguyễn Văn Cốc, Đặng Đình Nhân và Nguyễn Văn A,ba người trên cấp đội, người sau cùng cấp cai. Trong bốn người, ba người quê ở Hà Nội. Nguyễn Chí Bình và Nguyễn Văn Cốc quê ở thôn Chằng, huyện Thạch Thất (1), mới được sáp nhập vào thủ đô hồi tháng mười hai năm 1978; Đặng Đình Nhân quê ở Bạch Mai, thuộc quận Hai Bà Trưng, nội thành Hà Nội.
Vào thời kỳ này, trường Đông kinh nghĩa thục vừa bị thực dân Pháp bắt đóng cửa (tháng Mười hai 1907), gây phẫn nộ sâu sắc trong quần chúng. Nhiều người muốn có một hành vi quyết liệt ngay tại Hà Nội để bọn thực dân thấy rằng dân Việt không bao giờ chịu khuất phục trước cường quyền. Một kế hoạch táo bạo được vạch ra nhằm thực hiện một cuộc binh biến ở ngay đầu não quân đội Pháp trong thành Hà Nội. Đặng Đình Nhân là người đã từng có liên hệ với các sĩ phu trong phong trào Đông kinh nghĩa thục, đã tìm được một số bạn cùng chí hướng trong các hạ sĩ quan và binh sĩ đồng ngũ và đã có những buổi họp hội kín tại quán hàng cơm nhà số 20 phố Cửa Nam do bà Nhiêu Sáu mở. Mọi người nhất trí kế hoạch: bỏ thuốc độc vào thức ăn của quân đội Pháp trong thành, sau đó nổ súng báo hiệu cho nghĩa quân Yên Thế túc trực sẵn bên ngoài, phối hợp với một số quần chúng mấy làng lân cận có trang bị khí giới, cùng kéo vào đánh chiếm trại lính, cướp khí giới, rồi đánh toả ra, làm chủ cả thành phố. Kế hoạch trên được trao đổi với một số tướng lĩnh phái viên của chủ soái Hoàng Hoa Thám, cùng một số nhân vật của phong trào Đông kinh nghĩa thục, và được thống nhất ý kiến hoàn toàn. Một số thợ giỏi có nhiệt tình yêu nước, đã được huy động đến thôn Tương Mai và xóm Giàu Rễ thôn Bạch Mai (xóm này là khu vực Trường Đại học Bách khoa Hà Nội) để bí mật rèn giáo mác và giấu kín ở các bụi bờ, ao chuôm, chờ ngày khởi sự.
Ngày hành động đã được ấn định cụ thể. Nhưng vì cớ này cớ khác, phải hoãn lại, và hoãn như thế nhiều lần. Cuối cùng, mới quyết định chọn ngày 27 tháng Sáu năm 1908: Việc đầu độc được thực hiện vào bữa ăn chiều, sau đó, đến 8 giờ tối, sẽ bổ ba phát súng báo hiệu bắt đầu hành động cho những toán dân chúng sát nội thành đã túc trực ở ngã tư Trung Hiền, Lò Lợn (trên đê sông Hồng) và Cầu Giấy, cùng toán nghĩa quân Yên Thế bố trí ở mạn đê Yên Phụ và quanh phủ Toàn quyền.
Nhưng, do tổ chức thiếu chặt chẽ, và có gian mật báo, nên thực dân Pháp đã nắm được kế hoạch khởi nghĩa và kịp thời ngăn chặn. Chỉ có khoảng 200 sĩ quan và lính thuộc cơ pháo thủ và cơ bộ binh thuộc địa là bị trúng độc, nhưng chất độc không mạnh, nên không tên nào bị thiệt mạng. Còn các tên khác được báo tin ngay và các món ăn được kịp thời thay thế. Thực dân Pháp lập tức ra lệnh giới nghiêm, lùng bắt những người tình nghi trong thành và ngoài đường phố. Lúc này, các toán nghĩa quân mai phục bên ngoài không thấy súng hiệu đã mau chóng rút lui.
Các nhân vật chủ chốt của cuộc binh biến chỉ trong một thời gian ngắn đều sa lưới thực dân. Chúng gấp rút tiến hành tra hỏi, và chỉ hai tuần lễ sau, Hội đồng đề hình (tên gọi toà án thực dân chuyên xử những vụ chính trị) họp ngày mồng 8 tháng Bảy 1908 tuyên án xử tử 13 người, khổ sai chung thân 4 người, xử tù giam nhiều người khác. Trong những người bị án tử hình có bốn liệt sĩ được nhắc trong bài ca dân gian nói trên. Giặc Pháp đã bố trí việc hành hình bằng máy chém ở ngay cạnh Cột Cờ của thành Hà Nội cũ. Nhiều người dân đã tới dự, một số phụ lão còn nhớ và khâm phục thái độ dũng cảm, hiên ngang của các chiến sĩ. Riêng Đặng Đình Nhân đã lớn tiếng lên án giặc Pháp cướp nước và bọn Việt gian bán nước. Và khi nghe tuyên bố ông “can tội phiến loạn”, ông đã kiên quyết phản kháng: “Ta không làm loạn mà chỉ là trung với nước”. Cuối cùng, ông đã nói to chào đồng bào trước khi ung dung bước lên đoạn đầu đài.
![]() |
Đầu các pháo thủ bản xứ, những kẻ đầu độc xử trảm ngày 8 - 7 - 1908 theo luật An Nam |
Qua đảo báo thâm thù, bạch quỉ nhất trường táng đởm
Thủ huyền tiêu chính khí, Hồng Mai thiên cổ lưu phương.
(Giáo quay lại báo thù sâu, bọn quỉ trắng một phen vỡ mật,
Đầu treo cao nêu nghĩa cả, đất Mơ hồng luôn thuở thơm hương).
“Quỉ trắng” (bạch quỉ) là tên gọi khinh miệt bọn thực dân da trắng. “Mơ hồng” tức Hồng Mai tên cổ của Bạch Mai, xưa là một phường thuộc huyện Thọ Xương.
Bọn Pháp hay tin, cho người đến bóc ngay, nhưng câu đối đã ghi sâu vào tâm trí quần chúng và được mau chóng truyền đi rộng rãi. Chỉ đêm sau nữa, đầu các liệt sĩ đã biến mất. Dân chúng có nhiệt tình đã phối hợp với gia đình gỡ xuống, đem đi mai táng. Bọn cầm quyền cố truy tìm, nhưng vô hiệu.
Vụ đầu độc trong thành Hà Nội không thành công: phía quân Pháp có thể nói không thiệt hại gì, còn về phía ta thì nhiều chiến sĩ hy sinh. Tuy nhiên, nó đã có tiếng vang không nhỏ. Những người Việt mà chúng tưởng đã mua chuộc được để trao súng ống đi đàn áp các phong trào yêu nước, đã quay súng bắn lại chúng. Gương sáng các nghĩa sĩ còn tác động mạnh mẽ đến các cuộc nổi dậy chống Pháp sau này. Cuốn Việt Nam nghĩa liệt sử(chữ Hán) xuất bản năm 1918 đã dành một chương nói về các “liệt sĩ Hà Thành” trong vụ đầu độc, kèm mấy bài thơ phản ánh niềm tiếc thương, khâm phục, tỉ như bốn câu:
Thuỳ tương tiên huyết nhiễm thanh biên
Ngọ dạ hàn đăng nhất huyễn nhiên
Bạt kiếm thủ lăng hoành chước địa
Đảo qua tâm sự trực hồi thiên…
(Sử xanh ai nhuộm máu hồng tươi
Đèn lạnh đêm khua giọt lệ rơi
Taymạnh vung gương vằm mặt đất
Lòng trung trở giáo chuyển cơ trời)
Ngay từ thời đó người Pháp đã cho lưu hành những tấm bưu ảnh chụp các chiến sĩ bị gông cùm trong nhà giam Hoả Lò và tấm ảnh chụp đầu ba liệt sĩ bị hành quyết ngày 8 tháng 7 năm 1908. Đó là đầu các ông Đội Bình, Đội Nhân và Đội Cối, bị bêu ở các cửa ô Cầu Dền, Cầu Giấy và Chợ Mơ. Phải mất một thời gian dài sau vụ án, con cháu các liệt sĩ mới đi tìm hài cốt của cha ông để mai táng. Nhưng dưới thời Pháp thuộc, việc qui tụ hài cốt các liệt sĩ gặp rất nhiều khó khăn. Người ta chỉ biết các nghĩa sĩ bị xử trảm được chôn ở khu Bãi Bàng, hình như nay thuộc phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, trước đây thuộc tỉnh Hà Đông.
Sau Cách mạng tháng Tám, vào tháng Mười hai 1945, Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội đã ra quyết định xoá bỏ toàn bộ các tên phố cũ tuyệt đại bộ phận là tên các quan chức và sĩ quan thực dân, và thay thế bằng tên những danh nhân Việt Nam, việc này đã được làm phần lớn dưới thời chính phủ Trần Trọng Kim. Một trong những danh nhân được chọn là Đặng Đình Nhân. Tên ông được đặt cho một phố ở khoảng giữa hồ Thiền Quang và đường Nam Bộ. Phố này về sau đổ là phố Đỗ Hạnh, do chính quyền hồi Hà Nội tạm bị chiếm đặt, đến năm 1954, vì tránh sự xáo trộn, ta vẫn giữ nguyên.
Trải qua bao năm tháng, vật đổi sao rời, mồ chôn các liệt sĩ không còn được nguyên vẹn. Gần đây, cháu con các vị liệt sĩ xưa vẫn tiếp tục đi tìm mộ và có gia đình đã cho xây lại mồ các liệt sĩ. Tưởng nhớ và tự hào với hành động hy sinh của người xưa, hậu duệ các liệt sĩ đó vẫn tiếp tục tạo nên một nơi yên nghỉ xứng đáng cho người thân trong dòng họ mình. Đây không phải chỉ là công việc của dòng họ, mà cần được sự quan tâm của chính quyền thành phố.
Trong quá trình đô thị hoá, mảnh đất yên nghỉ của các liệt sĩ năm xưa đang có nguy cơ bị thu hẹp lấn chiếm. Mặc dầu đã được các gia đình qui tụ và xây dựng, hiện nay những ngôi mộ đó vẫn nằm cạnh một xó tường nhếch nhác vùng Nghĩa Đô, nơi từng là trại nuôi dê, thấp hơn mặt đường nửa thước, muốn đi vào phải vạch cây cối, đi qua nhà người ta. Cảnh vật nơi đây không khỏi khiến ta đau lòng khi nhìn thấy không khí quạnh hiu này.
Để kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, chúng ta không thể quên các liệt sĩ vì nghĩa lớn của dân tộc đã ngã xuống cách đây 100 năm. Mong rằng thành phố sẽ có những quyết định xứng đáng để tôn vinh các liệt sĩ trong vụ “Hà Thành đầu độc”.
Chú thích:
1. Lịch sử Thủ đô Hà Nội,Trần Huy Liệu chủ biên, Nxb Sử học, 1960, tr 61.









