Các vai giao tiếp và giới tính trong hát phường vải Nghệ Tĩnh
1. Hát phường vải Nghệ Tĩnh và các giao tiếp
Hát phường vải (HPV) là thể loại đặc sắc trong kho tàng thơ ca dân gian xứ Nghệ vốn rất đa dạng về thể loại, làn điệu và phong phú về nội dung. HPV khi hát một mình gọi là ví ngâm, ví buông; nhưng thường là hát đôi, hát phe: Hát đôi là một nam một nữ; hát phe là phe nam phe nữ, phe khách phe chủ. Mỗi phe thường có những người có giọng hát thật hay, thật trong trẻo, mượt mà, vang xa; đồng thời lại có những người giỏi bắt làn bẻ điệu, có tài đối đáp, đố hỏi, gọi là những “thầy gà”, “thầy bày” trí tuệ, mẫn tiệp, thông kim bác cổ, am hiểu Đông Tây. Mặt khác, trong một cuộc HPV, ngoài những người trực tiếp hát đối đáp (bên nam - bên nữ), còn có cả những người đi nghe hát (trẻ có, già có, nam có, nữ có). Như vậy, nếu xét từ góc độ vai trò tham gia thì những người có mặt trong cuộc HPV (ở cả hai phe) thường gồm các thành phần khác nhau: người hát (bao gồm cả người cất giọng và người đỡ giọng); người đặt câu hát (còn gọi là thầy bày, thầy gà); người đi nghe hát (thính giả tự nguyện). Nếu xét về quan hệ giao tiếp thì các thành phần trên được đặt vào các vai giao tiếp cụ thể: vai chủ(phe nữ), vai khách(phe nam) và vai thầy bày, thầy gà(người đi nghe hát có thể thuộc một trong ba vai này).
Trên cơ sở xem xét mối quan hệ giữa ngôn ngữ và giới tính, sau đây, bài viết sẽ tập trung tìm hiểu các vai giao tiếp trong HPV Nghệ Tĩnh: vai chủ, vai khách và vai thầy bày (thầy gà).
2. Phe nữ và vai chủ trong HPV
2.1 Xác định vai chủ cho phe nữ qua từ xưng hô
- Phe nữ được gọi (hoặc tự xưng) là chủ nhà, phường:
(1) Đến đây hỏi thật chủ nhà
Vườn hồngnghiêm cấm hay là cho chơi?(lời nam)
- Có trường hợp phe nữ được gắn với những hình ảnh ẩn dụ: hoa, trăng, vườn đào, vườn hoa, vườn hồng, vườn trúc, vườn xuân…
(2) Nom lên vườn trúc xanh non,
Hỏi vườn trúcấy có còn măng không?(lời nam)
2.2 Hoạt động giao tiếp của vai chủ
a) Phe nữ thường gắn với các hoạt động tiếp khách của vai chủ: đón, chào, mời…
-Ra chào khách:
(3) Cau non tiện chũm lòng đào,
Trầu têm cánh phượng ra chàobạn quen(lời nữ).
- Mừng khách đến chơi:
(4) Mừngrằng chàng đến chơiđây,
Vui này cùng giá bằng ngày đề danh(lời nữ)
- Mời khách: vào nhà, hút thuốc, ăn trầu, uống nước…
(5) Mời bạn vô nhà hút thuốc nghỉ chân,
Cau dầm trù trại, của nhà mình nỏ có chi.
Một ngày là nghĩa tương tri,
Nước chè trâm (chè vối) thấp thoảng, chợ không đi vì mùa(lời nữ).
b) Phe nữ thường chủ động trong các bước thử thách của vai chủ dành cho vai khách:
- Hỏi tìm hiểu khách: quê quán ở đâu, tên họ là gì, cha mẹ thế nào, anh em được mấy người, làm nghề gì, tại sao biết đây mà đến…
(6) Đến đây hỏi thật quê chàng,
Hỏi danhhỏi họ, hỏi làng làngchi?(lời nữ)
- Đố kèm theo điều kiện ước kết: cho làm chồng, theo ngay, không về hầu, trao tay lạng vàng, xin theo…
(7) Này anh ơi:
Chữ chi anh chôn dưới đất
Chữ chi anh cất lên đầu,
Chữ chi anh mang không nổi,
Chữ chi gió thổi không bay,
Anh mà giải được, thiếp trao tay lạng vàng(lời nữ)
- Xuất đối kèm theo điều kiện ước kết: cho làm chồng, mời vào, theo về, trao tròn một quan, về là du (dâu) mẹ thầy, xin thua phen này, xin theo…
(8) Cô Xuânmà đi chợ Hạ,
Mua một con cá thuvề chợ hãy còn đông,
Trai nam nhi chàng mà đối đặng thiếp theo không chàng về? (lời nữ)
c) Phe nữ gắn với hoạt động tiễn khách của vai chủ:
- Phe nữ thường gắn với trạng thái hoạt động ở lạicủa vai chủ: ở, ở lại, ở đây…
(9) Anh về chi nữa anh ơi,
Ở đâyem dạm một nơi thanh nhàn(lời nữ)
- Phe nữ thường tiễn khách bằng lời trách:
(10) Chưa chi anh đã vội về,
Đã đi đừng vội, vội về đừng đi(lời nữ)
- Phe nữ thường tiễn khách bằng những lời bày tỏ tâm trạng lưu luyến đối với khách: (i) Muốn giữ chân khách lại: đừng về, về răng đứt, về răng được, về chi nữa, về sao đành, ở lại mà chơi, chưa nên về, mời chàng ở lại, chẳng cho về…(ii) Muốn được cùng về theo khách: (cho em) về theo, về cùng, xin theo, theo cùng…(iii) Bộc bạch tâm trạng: nhớ, thương, buồn, sầu…
(11) Ra về răng đượcmà về
Ở đây tay gối đầu kề nỏ (chẳng) hơn(lời nữ)
- Phe nữ tiễn khách bằng những lời căn dặn, nhắc nhở, hẹn hò: (i) Hỏi thời gian khách sẽ lại đến: mai đã lên chưa…(ii) Hẹn hò: mai lên, mai sang, mai qua, hôm mai đi sớm, tối mai lại nhà…(iii) Nhắc nhở, nhắn nhủ: về thưa với cha mẹ, ông bà; sắm lễ vật, soạn sửa nhà cửa…
(12) Anh về dặnthiệt (thật) nhớ nha (nhé),
Tối mairăng (sao) cũng lại nhà em chơi(lời nữ).
3. Phe nam và vai khách trong HPV
3.1 Xác định vai khách cho phe nam qua từ xưng hô
-Phe nam thường tự xưng hoặc được gọi là khách
(13) Nghe tin đây mới cưới phường,
Anh là khách lạtrên Lường xuống chơi(lời nam).
- Ngoài một số trường hợp dùng độc lập, từ kháchthường gắn với những từ ngữ chỉ đặc điểm (nghề nghiệp, tính cách, tài năng…) của giới nam: (i) Trong lời xưng của phe nam: khách cung trăng, khách giang hồ, khách viễn phương…(ii) Trong lời hô gọi của phe nữ: khách anh hùng, khách Chương Đài, khách đường xa, khách hảo cầu, khách nhà nông, khách lành, khách lạ, khách quen, khách tài hoa, khách tri âm, khách văn chương…
(14) Dừng xa khoan kéo ơ phường,
Hình như có khách viễn phươngđến nhà(lời nam)
- Một căn cứ nữa để xác định vai khách cho phe nam là trong lời mở đầu câu hát phường vải của phe nữ thường có cụm từ “ ơ người đi nhởiơi”
3.2 Hoạt động giao tiếp của vai khách
a) Phe nam thường gắn với những hoạt động chào hỏi của vai khách đối với vai chủ khi mở đầu cho một cuộc hát:
- Hát dạo để thông báo với bên nữ (chủ nhà) về sự có mặt của mình trong cuộc hát.
(15) Hữu khách,hữu khách nàng ơi,
Hình như hữu khách tới nơi hữu tình(lời nam)
- Hát chào mừng chủ nhà:
(16) Đến đây mừng cảnh mừng hoa,
Trước mừng lân lí,sau ra mừng nường(nàng)(lời nam)
- Hát hỏi để tìm hiểu chủ nhà: con ai, bao nhiêu tuổi, có chồng con chưa…
(17) Trắng trong biết có con dòng,
Hỡi người thục nữ đã có chồng hay chưa?(lời nam)
- Hát đáp lại lời mời của chủ nhà (mời vào nhà; mời ăn trầu, uống nước…)
(18) Miếng trầu là nụ huê (hoa) hương,
Ăn rồi có kết nghĩa nường (nàng) hay không?(lời nam)
b) Phe nam thường phải thực hiện các bước thử thách dành cho vai khách:
- Giải đố gắn với lời nhắc nhở phe nữ thực hiện ước kết: tính răng (sao), trao chi, mong em về, ta làm chồng, muốn tắc rì (đi đứng) cùng em…
(19) Ớ em ơi!
Chữ hoàng thiên anh chôn dưới đất,
Chữ phụ mẫu anh cất lên đầu,
Chữ đá vàng anh không mang nổi,
Chữ duyên tình gió thổi không bay,
Em trao chi cho anh hả dạ,
Chứ trao tay lạng vàng anh nỏ (chẳng) cảm ơn(lời nam)
- Đối lại gắn với lời nhắc nhở phe nữ thực hiện ước kết: tính răng, tiền cheo mô mà, phải trao duyên, phải theo anh về, phải về hôm nay, thuận tình em nha (nhé), đã thoả lòng em chưa…
(20) Trai Thanh Nam ngồi hàng thuốc bắc,
Gái ĐôngSàng cảm bệnh lầu tây,
Hai ta tình nặng nghĩa dày,
Đối ra đáp được lúc này tính răng(sao)?(lời nam)
c) Phe nam gắn với các hoạt động chào từ biệt chủ nhà:
- Phe nam thường gắn với trạng thái hoạt động ra vềcủa vai khách: Ra về, về, xin về…
(21) Đêm khuya sương xuống đất im,
Nàng Kiều đi nghỉ, chàng Kim xin về(lời nam)
- Phe nam thường bày tỏ mong muốn được mời bạn (phe nữ) cùng về với mình: về theo anh…
(22) Xếp ra quay lại em tề (kìa),
Gửi thầy với mẹ mà về theo anh(lời nam)
- Phe nam chào về kèm theo những lời bộc bạch tâm trạng: nhớ, nhớ thương, buồn…
(23) Ra về nhớlắm em ơi,
Nhớxa em kéo, nhớlời em than(lời nam)
- Phe nam chào về kèm theo những lời căn dặn, nhắc nhở, hứa hẹn:
(24) Ra về bẻ lá cắm đây,
Dặncây đào liễu, chớ cho ai vun trồng(lời nam)
4. Vai thầy bày trong PHV
4.1 Sự xuất hiện của vai thầy bày
“Thầy bày”, “thầy gà” là cách gọi dành cho những người đóng vai trò đặt lời, bày câu hát cho những người tham gia cuộc hát (kể cả phe nam và phe nữ). Thầy bày thường là những nhà nho, những văn nhân tài tử, và có cả tầng lớp quan lại tham gia. Và không chỉ các ông thầy nho học mới làm thầy bày mà nghệ nhân dân gian, những người chưa hề qua cửa Khổng sân Trình cũng trở thành bày, thậm chí đó là nghệ nhân thuộc giới nữ như trường hợp nghệ nhân Võ Thị Nhẫn ở Đan Du (xã Kì Thư, Kì Anh, Hà Tĩnh). Khi còn trẻ, cô không chỉ là người hát hay mà còn sáng tác câu hát giỏi, từng so tài đọ sức với bao nho sĩ. Khi giọng hát không còn, cô làm thầy bày cho bao đám thanh niêm nam nữ đối đáp với nhau.
Ban đầu, thầy bày xuất hiện do nhu cầu của bên nam khi tham gia các chặng hát đố, hát đối. Là vai khách, trước khi được bên nữ mời vào nhà cùng hát giao duyên, bên nam thường phải trả lời các câu hỏi đố, các câu đối rất hóc hiểm của bên nữ. Không ít vị khách phường vải đã ngậm ngùi rút lui khỏi cuộc hát vì không thể vượt qua nổi bước thử thách này. Để giữ thể hiện, và cũng là để vượt qua các thử thách ban đầu dành cho các vai khách tham gia hát phường vải, phe nam cần đến vai thầy bày: “ Bên nam có tiền bạc rước thầy- Bên nữ vừa đặt vừa hát cũng hay câu đàn”. Rồi đến lượt vai chủ cũng cần đến thầy bày để đặt lời hay hơn, khó hơn. Và cuối cùng, các thầy bày cũng trực tiếp cất lên tiếng hát, ham mê PHV chẳng kém gì trai gái trong vùng. Sự tham gia của các nhà nho trong vai thầy bày làm giảm đi phần nào tính chất bình dị dân gian ban đầu của HPV, khiến cho HPV ngày càng lệ thuộc quá nhiều vào những quy cách chặt chẽ, từ thủ tục đến các kiến trúc câu hát. Thậm chí đã gây ít nhiều rắc rối cho HPV, và có những cuộc HPV không còn là sự đối đáp giao duyên giữa vai chủ - vai khách mà trở thành sự đối địch bắt bẻ chữ nghĩa giữa thầy bày ngồi trong (gắn với vai chủ) và thầy bày ngồi ngoài (gắn với vai khách). Tuy nhiên, tạm gạt đi những hạn chế ấy, có thể thấy rõ sự xuất hiện của vai thầy bày là một nét độc đáo riêng có của HPV Nghệ Tĩnh so với các hình thức dân ca khác.
4.2 Vai trò của thầy bày trong một cuộc HPV
a) Thầy bày ở trong hậu trường với vai trò là người đặt lời, bắt làn bẻ điệu:
Vai thầy bày trong “hậu trường?” là một đòi hỏi tất yếu xuất phát từ thực tiễn của HPV, đặc biệt là ở chặng hát đố, hát đối. Bên ra lời đố, vế đối thì yêu cầu phải thật hóc búa; còn bên giải đó, đối lại thì phải nhanh trí, thông kim bác cổ; rất cần đến sự tham gia của thầy bày. Chính sự xuất hiện trong hậu trường của thầy bày góp phần tạo thêm chất trí tuệ cho HPV, làm cho HPV trở nên hấp dẫn, có sức lôi cuốn đối với các bên, kể cả đối với người đi nghe HPV.
Khi thầy bày ở hậu trường của phe nữ (vai chủ) thì thường góp phần tạo nên tính gay cấn cho cuộc hát (đẩy phe khách vào thế bí). Có trường hợp, để bắt bí những anh chàng chỉ lo tầm chương trích cú, có cô đã ra câu đố: “ Đồn rằng chàng đọc Kinh Thi - Cha thầy Mạnh Tử tên chi rứa chàng?”. Sách vở chỉ nói thầy Mạnh Tử là học trò của Khổng Tử, không hề nói Mạnh Tử con ai. Vì vậy, đối thủ cứ việc lục lọi tất cả vốn kiến thức Hán học của mình. Hỏi như thế thật “hóc búa”, khó trả lời. Biết phe nữ có thầy gà giỏi, chàng trai đành đáp liều rồi bỏ chạy:
(25) Thầy Mạnh cụ Mạnh sinh ra,
Đ. mẹ đứa hát, tổ cha thằng bày (1).
Khi thầy bày ở hậu trường phe nam (vai khách) thì thường góp phần xử lí những tình huống gay cấn. Có trường hợp, một anh chàng mang tang mẹ, một đêm chít khăn trắng đến phường vải Mậu Tài ( Nam Đàn). Anh ta mới hát dạo thôi, nhưng trong nhà các cô phường vải đã biết được câu chuyện để trở (tang) của đối thủ. Các cô liền đưa ra câu hát chọc “ Duyên hội ngộ, đức cù lao - Chữ tình chữ hiếu bên nào nặng hơn?”. Anh này bí quá, không biết hát ra sao, thì may có thầy bày rỉ tai mách dùm:
(26) Nhớ câu hất hiếu hữu tam,
Vô hậu vi đại nên cam sự tình.
( Bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đạilà câu rút trong sách Luật ngữ - có nghĩa là bất hiếu có ba điều, không có con nối dõi là nặng nhất). Câu đáp vừa giải thích được việc có tang mẹ vẫn đi hát là hợp lí (hi sinh cái hiếu nhỏ cho một cái hiếu lớn), lại vừa chọc được cô gái (2).
b) Thầy bày bị kéo vào với vai khách/ hoặc vai chủ
Đây là trường hợp bên nam/ nữ phát hiện ra đối phương có thầy bày, và vai trò của thầy bày quá lộ liễu (hoặc đưa ra những câu hỏi quá khó, không thể tìm lời giải được) nên tìm cách kéo thầy bày vào cuộc để chống chế, hoặc để thách thức. Chẳng hạn như khi phe nam đưa ra câu đố: “ Đến đây hỏi bạn một lời - Ai đào sông cho cá lội, ai trổ trời cho chim bay?”, thay vì cho lời giải đố trực tiếp, phe nữ đã đẩy thế bí về phe nam bằng cách xin thua cuộc để yêu cầu thầy bày giải (và phe nữ chắc chắn rằng kể cả thầy bày cũng không thể tìm được lời giải):
(27) Cái đó xin hỏi thầy bày,
Thầy bàygiải được, em đây theo chàng(lời nữ)
Trong một trường hợp khác, ở phần nêu câu đố, phe nữ đã thể hiện thái độ thách thức đối phương bằng cách kéo cả thầy bày vào cùng với phe nam (chấp cả phe nam và thầy bày):
(28) Đố anhđố cả người bày,
Sao sa xuống đất, mấy ngày sao lên?(lời nữ)
c) Thầy bày trực tiếp vào vai khác:
Đây là trường hợp các nhà nho không chỉ tham gia đặt lời, bày lời cho phe nam, phe nữ, mà trực tiếp cất lời hát đối đáp. Vào vai khách, các nhà nho được gọi là chàng Kim, nho sĩ, tài tử, thầy đồ, văn nhân, văn nho, bạn học trò, khách văn chương…Và các câu hỏi đố, xuất đối của các cô gái dành cho họ chủ yếu liên quan tới kiến thức sách vở, kinh thư (chữ nghĩa, đạo lí…).
(29) Tiếng đồn anh học chữ ngoài triều,
Chị dâu rớt xuống giếng nắm đường nào kéo lên?(lời nữ)
- Anh xách cái đầu lỗi đạo nhân huynh,
Thò tay vào mình thụ thụ bất thân,
Không cứu chị dâu thì lỗi đạo từ đường,
Dòng dây thả xuống giếng, chị nương chị trèo(lời nam).
5. Nhận xét kết luận
5.1 Trong HPV, với vai chủ nhà, phe nữ thường chiếm tỉ lệ cao về lời hát. Kết quả khảo sát cho thấy, trong 1745 lời hát phường vải được khảo sát thì có 978 lời hát nữ (56%) và 767 lời hát nam (44%). Tỉ lệ này càng chênh lệch ở một số chặng hát có ý nghĩa thử thách như hát đố, hát đối và hát tiễn. Trong 75 lời hát đố được khảo sát, phe nữ có 73 lời (97%), phe nam có 2 lời (3%). Trong 33 lời đối thì phe nữ có 31 lời (94%), phe nam có 2 lời (6%).
Tương tự như vậy, ở phần hát tiễn, với ý nghĩa là chủ nhà tiễn khách nên đa số câu hát thường là phe nữ (vai chủ) nhắn gửi theo bước chân người về (phe nam, vai khách) với nhiều cung bậc tình cảm khác nhau. Trong 133 lời hát tiễn (gồm 105 lời hát đơn và 28 lời nằm trong 14 cặp đối đáp) được khảo sát, phe nữ cũng giành tỉ lệ rất cao với 98 lời (gồm 84 lời đơn, 12 lời trao và 2 lời đáp), chiếm 74%; còn phe nam có 35 lời (gồm 21 lời đơn, 2 lời trao và 12 lời đáp), chiếm 26%.
Kết quả khảo sát trên cho thấy với vai trò chủ nhà, phe nữ thường ở thế chủ động, vì vậy khá tự tin trong giao tiếp. Trong khi đó, phe nam vốn gắn với tính cách mạnh mẽ, tự tin, nhưng khi tham gia hát phường vải, phe nam lại ở vào thế bị động của vai khách, do đó có lúc vẫn tỏ ra lúng túng, thiếu tự tin.
5.2 Cách xưng hô khách/ chủthường được dùng ở chặng hát đầu: Hát dạo - hát chào mừng - hát hỏi. Đồng thời cũng chỉ hay xuất hiện ở những trường hợp bên nam là người lạ đối với phường hát (trừ trường hợp dùng từ khách quen). Cả hai bên thực hiện bước tìm hiểu, thăm dò đối phương. Do đó, cách xưng hô khách/ chủ, nhất là những từ dùng để gọi khách (giới nam) thường mang tính cách điệu, được mĩ từ hoá ( khách viễn phương, khách cung trăng, khách giang hồ, khách Chương Đài). Khi đã hiểu về nhau, trở nên thân thiết ( khách quen), thì cuộc hát phường vải có thể bỏ qua các chặng hát dạo đầu, đồng thời cách xưng hô cũng sẽ có những thay đổi nhất định, đặc biệt cặp từ khách/ chủrất ít được nhắc tới. Thay vào đó là cách xưng hô thể hiện sự gần gũi, thân thiết (cách xưng hô của phe nữ (vai chủ): em/ anh, em/ người, thiếp/ chàng, đó đây…; cách xưng hô của phe nam (vai khách): anh/ em, anh/ cô mình, ta/ mình, ta/ nàng, đó/ đây…).
Cũng có đôi trường hợp, từ kháchgắn với phe nữ (dù phe nữ vẫn chính là chủ nhà): Khách lầu hồng, khách hồng lâu…Tuy nhiên, có thể thấy cách xưng hô này chủ yếu để phục vụ chiến lược giao tiếp của phe nam: muốn thông qua cách xưng hô theo hướng mĩ từ hoá để thể hiện thái độ tôn trọng, đề cao bên nữ.
5.3 Bàn đến các vai giao tiếp trong HPV vẫn còn nhiều điều lí thúc khác nữa. Chẳng hạn như có một số trường hợp, vai chủ và vai khách (thậm chí cả vai thầy bày) gắn với những câu hát có tên tác giả và tích chuyện cụ thể; hoặc người bắt làn bẻ điệu, đặt lời hát không chỉ là phe nam, phe nữ hay thầy bày, mà có khi là những thính giả đến thưởng thức cuộc HPV… Qua đó cho thấy vẫn còn nhiều những nét độc đáo, đặc sắc của các vai giao tiếp trong HPV Nghệ Tĩnh. Tác giả bài viết này xin tiếp tục tìm hiểu, nghiên cứu để đề cập tới trong các bài viết sau.
Tài liệu tham khảo
1. Diệp Quang Ban,Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Giáo dục Hà Nội, 2005.
2. Đỗ Hữu Châu,Đại cương ngôn ngữ học , tập 2, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2001.
3. Vũ Tiến Dũng,Lịch sử trong tiếng Việt và giới tính (Qua một số hành động nói), Luận án tiến sĩ ngữ văn, Trường ĐHSP Hà Nội, 2003.
4. Ninh Viết Giao,Hát phường vải, Nxb VHTT, Hà Nội, 2002.
5. Nguyễn Văn Khang, “Sự bộc lộ giới tính trong giao tiếp gia đình người Việt ”, Ứng xử ngôn ngữ trong giao tiếp gia đình người Việt, Nxb VHTT, Hà Nội, 1996.
6. Đỗ Thị Kim Liên,Ngữ nghĩa lời hội thoại, Nxb Giáo dục, 1999.
Chú thích
(1), (2) Theo cuốnHát phường vải của tác giả Ninh Viết Giao, chàng trai (vai khách) trong (1) và thầy bày trong (2) chính là Phan Bội Châu.








