 | Đáy mắt, với tâm mạch phát triển ở võng mạc. |
Bệnh này là do sự lão hoá bất thường của điểm vàng, trung tâm của võng mạc, hậu quả của một vấn đề đổi mới các tế bào hình nón và hình que. Bệnh có 2 dạng: - Dạng ướt:Với hiện tượng viêm và xuất hiện các tân mạch. - Dạng khô:Các tế bào hình nón và các tế bào nâng đỡ chết, thị lực giảm dần, nhưng còn thị giác ngoại vi. Ở bệnh này, chẩn đoán có những tiến bộ đáng kể, nhờ các thiết bị mới Kính soi đáy mắt quét lasergiúp chẩn đoán rất sớm bệnh của võng mạc và xác định giai đoạn của bệnh. Chụp X quang mạch: Tiêm vào máu, một chất huỳnh quang và chụp ảnh đáy mắt. Kỹ thuật vi tính hiệu năng cao:có thể định vị các tân mạch. Chụp cắt lớp võng mạclà một tiến bộ lớn, cho phép khảo sát các ảnh cắt lớp của võng mạc. Cho đến năm 2000, đối với DMLA dạng ướt, chỉ có phương pháp điều trị bằng laser cho các bệnh nhân được phát hiện sớm và khi tân mạch nằm ở xa trung tâm võng mạc. Còn đối với dạng khô, không có cách nào cả. Nhưng từ năm 2000, quang liệu pháp năng động là một tiến bộ đầu tiên đối với DMLA dạng ướt. Laser mới này có thể làm đông các tân mạch, kể cả các tân mạch nằm ở điểm vàng. Vì vậy, trong 20% các ca, bệnh được ổn định. Tuy nhiên, bệnh nhân cần phải sử dụng liệu pháp laser này 3 tháng một lần. Từ 2006, đã ra đời 2 dược phẩm kháng với sự sinh tân mạch (anti - Vegf). Thuốc có khả năng làm chậm sự giảm thị lực hay ức chế sự phát triển của bệnh. Hai dược phẩm này là thuốc tiêm vào thể kính 1 lần/ tháng, để tấn công protein Vegf, yếu tố sinh tân mạch: - Pegaptanidlà dược phẩm kháng - Vegf, không độc hại cho võng mạc. - Ranibizummabức chế được tất cả protein Vegf, có phạm vi hoạt động rộng, lớn hơn, nhưng có thể gây một số nguy cơ cho các nơron và các mao mạch bình thường của võng mạc. Nghiên cứu thực hiện trên cả nghìn bệnh nhân cho thấy Pegaptanib hạn chế sự giảm thị lực, trong lúc với Ranibizumab, thị giác được cải thiện từ 3% - 40% và ở 90% các bệnh nhân được điều trị, bệnh mắt được ổn định. Tác dụng phụ(2% các ca): Rối loạn mạch, cao huyết áp Hiện Ranibizumab chỉ được sử dụng ở bệnh viện.  Đối với DMLA dạng khô, chỉ những trường hợp phát hiện sớm mới giải quyết được. Các nhà nghiên cứu đã phát hiện, có thể làm chậm sự phát triển của bệnh mắt bằng các chất kháng oxy hoá, chất kẽm, omega -3 và các chất tăng cường sự tạo sắc tố của võng mạc. Các chất này có thể giảm đến 20% sự phát triển bệnh suy thoái điểm vàng. Ngoài ra, còn một tiến bộ mới: điều chỉnh được các kỹ thuật phục hồi chức năng càng ngày càng hữu hiệu, giúp bệnh nhân thấy được các vật ngoài trung tâm thị trường. Hiện nay, ở Pháp có các trung tâm phụ hồi chức năng mắt đặc biệt, có các thiết bị cho từng trường hợp DMLA dạng khô. Bệnh tăng nhãn áp hay bệnh glôcôm Theo giáo sư Christophe Baudouin, Bệnh viện Quinze Vingts Paris, 50 triệu người trên toàn cầu bị glôcôm. Có hai dạng glôcom, mà nếu không điều trị, đều dẫn đến mù loà do dây thần kinh thị giác bị tiêu huỷ dần. Dạng tăng nhãn áp góc đóng,áp suất trong mắt tăng một cách đột ngột thường xảy ra ban đêm, gây đau nhức dữ dội. Dạng tăng nhãn áp góc mở,chiếm 80% các ca glôcom, áp suất tăng từ từ và tiêu huỷ dần dây thần kinh thị giác. Hiện nay, kỹ thuật chẩn đoán bệnh qua hình bằng quét lasercó thể xác định một cách chính xác ảnh hưởng tác động của nhãn áp đến dây thần kinh thị giác và đánh giá tình trạng của bệnh. Điều trị:có nhiều thuốc nhỏ mắt mới, bằng kỹ thuật laser hay phẫu thuật. Cần phát hiện sớm bệnh glôcom, nhất là những người có nguy cơ (có cha, mẹ, họ hàng gần bị glôcôm) vì tổn thương dây dần kinh thị giác không thể hồi phục. Đối với glôcôm góc đóng, laser Yag là một phương pháp điều trị tuyệt vời. Khi một bệnh nhân đang bị một cơn đau, bác sĩ sẽ tiêm tĩnh mạch cho bệnh nhân một sản phẩm để hạ nhãn áp. Thường thì có kết quả hữu hiệu; nhưng để tránh cơn đau tái phát, bằng laser Yag, người ta đục một lỗ rất nhỏ trong mống mắt, để ngăn chặn đóng lại. Đối với glôcôm góc mở, bệnh nhân được điều trị ban đầu bằng thuốc nhỏ mắt, nhỏ mỗi ngày. Trong 30 năm, các bác sĩ nhãn khoa chỉ có 3 thuốc nhỏ mắt; nhưng từ 10 năm qua, 3 họ dược phẩm hữu hiệu đã được điều chỉnh. Đó là các prostaglandin và các chất chủ vận Alpha 2 giúp đào thải qua kênh, các chất ức chế anhydraz carbonic làm giảm bớt sự tiết thuỷ dịch. Hiện nay, theo giáo sư Baudouin, với các dược phẩm mới, có thể ổn định 80% các ca glôcôm góc mở. Đối với 20% bệnh nhân còn lại, kỹ thuật laser mới vừa được điều chỉnh cắt bỏ các đoạn mô nhỏ trong một phần ống thoát dịch mắt (ống Schlemm), có thể làm giảm nhãn áp. Như vậy, giải quyết thêm được 10%. Nếu kỹ thuật laser không thành công, bac sĩ có thể làm sạch ống Schlemm, mà chỉ cần gây tê mắt. Bệnh đục thuỷ tinh thể Đục thuỷ tinh thể (bệnh cườm mắt) xuất hiện khoảng 60 - 65 tuổi và tăng lên sau 70 tuổi. Nó kéo theo giảm thị lực, thấy mờ, không thấy được các chi tiết. Vào thế kỷ 18, Jacques Daviel (Pháp) đã điều chỉnh phương pháp mổ lấy cườm ra khỏi mắt. Hiện nay người ta áp dụng phương pháp Phaco, kết hợp siêu âm và hút, lấy thuỷ tinh thể ra và đưa vào một thuỷ tinh thể nhân tạo. Chỉ cần rạch một đường 2mm và không cần khâu lại, phẫu thuật chữa đục thuỷ tinh thể rất nhẹ nhàng: bệnh nhân đến bệnh viện buổi sáng, mổ xong sau 15 - 20 phút, trưa có thể về lại nhà, mà không đau đớn. Theo Giáo sư Jean Marc Ancel, bác sĩ phẫu thuật mắt, các thuỷ tinh thể nhân tạo, thế hệ sau này, được điều chỉnh để thay thế thuỷ tinh thể cũ bị đục và cũng có thể cải thiện các rối loạn ở mắt trước đó, như cận thị hay viễn thị và sau phẫu thuật này, bệnh nhân có thể không cần mang kính. Với phương pháp Phaco, nguy cơ tai biến rất thấp (dưới 1%). Đó là một tiến bộ lớn đem lại ánh sáng cho người cao tuổi bị đục thuỷ tinh thể. |