Các phương pháp điều trị vữa xơ động mạch
Những yếu tố nguy cơ gây vữa xơ động mạch là gì?
Nguyên nhân của vữa xơ động mạch (VXĐM) ngoại biên và VXĐM vành là gì, cho đến nay vẫn chưa trả lời chắc chắn được. Bởi lẽ không có một nguyên nhân đơn độc nào có thể chắc chắn gây VXĐM, mà VXĐM là một bệnh có nhiều nguyên nhân. Nhờ thống kê phân tích hàng vạn trường hợp bị VXĐM, cho thấy có những nhân tố nguy cơ làm tăng tỷ lệ bị VXĐM
Những yếu tố nguy cơ bao gồm: Rối loạn lipid trong máu, như tăng cholesterol toàn phần, tăng LDL-C, giảm HDL-C và tăng triglycerid. Một nghiên cứu cho thấy cholesterol máu càng cao thì tỷ lệ VXĐM càng cao. Nhưng có người cholesterol cao mà không bị thiếu máu cục bộ cơ tim, do đó chỉ nên coi cholesterol tăng là yếu tố nguy cơ mà thôi.Hút thuốc lá: những người nghiện thuốc lá có tỷ lệ VXĐM cao hơn người không hút. Tuy nhiên có người không hút thuốc vẫn bị VXĐM và có những người nghiện thuốc mà chỉ bị vữa xơ ít hay không bị VXĐM, thuốc lá vẫn được coi là yếu tố nguy cơ của bệnh. Ngoài ra, phải kể tới những yếu tố nguy cơ sau : tăng huyết áp tâm thu lớn hơn 140mmHg hoặc tăng huyết áp tâm trương lớn hơn 90mmHg; đái tháo đường, hay kháng insulin; ít vận động thể lực và béo phì; căng thẳng thần kinh, stress; tuổi càng cao càng nhiều nguy cơ; nam nhiều nguy cơ hơn nữ; gia đình có người mắc bệnh tim mạch, nam dưới 65 tuổi và nữ dưới 55 tuổi. Những yếu tố nguy cơ kể trên độc lập với nhau, nghĩa là người nào càng có nhiều yếu tố thì nguy cơ càng cao.
Biểu hiện bệnh VXĐM như thế nào?
Tùy sự tiến triển của bệnh và vị trí của động mạch bị hẹp mà có các biểu hiện như: đau ở mông, háng hay đùi khi tổn thương ở động mạch chủ, động mạch hông, đau ở đùi hay bắp chân khi tổn thương ở động mạch đùi hay nhánh của động mạch đùi, đau ở bắp chân, cổ chân và bàn chân khi tổn thương ở động mạch nhượng hay động mạch đùi nông; đi khập khiễng cách hồi, chỉ có ở 10% trường hợp: bệnh nhân đau khi đi, khi nghỉ hết đau, khiến cho bệnh nhân đi một quãng lại phải nghỉ, chờ cho hết đau mới đi tiếp được, quãng đường mà bệnh nhân đi ngắn lại dần khi bệnh tiến triển ngày một nặng. Khoảng 50% số bệnh nhân chỉ thấy mỏi, tê hoặc có cảm giác nặng ở chi dưới. Có gần 40% bệnh nhân không đau chân, nhiều bệnh nhân thích nghi bằng cách đi chậm lại hoặc đi ít hơn nên không thấy triệu chứng. Trường hợp nặng, bệnh nhân đau cả khi nghỉ, có người phải ngồi, buông thõng chân cho bớt đau làm cho chân bị phù và có màu tím.
Nguy cơ mắc bệnh VXĐM tăng theo tuổi của bệnh nhân. Một nghiên cứu cho thấy tỷ lệ người mắc bệnh trong lứa tuổi từ 50-59 là 2,5%, từ 60-69 là 4,7%, trên 70 tuổi là 14,5%. Nguy cơ mắc bệnh sẽ tăng gấp hơn 4 lần ở người hút thuốc lá; 2,71 ở người đái tháo đường; 1,75 ở người tăng huyết áp; 1,68 ở người lipid máu cao; 2% ở người suy thận mạn. |
Khám có thể thấy bàn chân lạnh, các động mạch liên quan vùng bệnh đập yếu hoặc không bắt được mạch. Da có thể mỏng, nhẵn, lông chân thưa, móng chân mỏng đi vì nuôi dưỡng kém. Da tái đi khi giơ chân lên cao. Đầu ngón chân tím; Bắp thịt đau và cứng là dấu hiệu bắt buộc phải cắt bỏ chi. Nghiệm pháp gắng sức: bệnh nhân chạy với tốc độ 2 miles/giờ trên một tấm thảm lăn có độ dốc 12 độ đánh giá sự tưới máu tim và tưới máu chân. Nghiệm pháp này giúp chẩn đoán bệnh động mạch chân và hướng dẫn sự điều trị bằng tập luyện vì cũng cho biết sự làm việc của tim. Đo áp suất ở nhiều tầng khác nhau ở chân: nếu có sự cách biệt trên 20 mmHg so với bên đối xứng hoặc giữa các tầng lân cận là dấu hiệu của hẹp động mạch. Siêu âm, khảo sát Duplex cho thấy vị trí, hình dạng và mức độ của sự tắc nghẽn động mạch. Chụp động mạch với chất cản quang cộng hưởng từ MRA khảo sát động mạch chủ và động mạch ngoại biên là xét nghiệm cần thiết trước khi quyết định phẫu thuật.
Các phương pháp điều trị VXĐM
Bệnh nhân được hướng dẫn luyện tập phù hợp với từng người để phục hồi tim mạch. Cần tập cho đến khi bắt đầu có triệu chứng. Sự thiếu máu ở chân khi đi là kích thích tạo ra sự thay đổi để cải thiện sự tưới máu ở chân. Tập 3 lần/tuần trong 6 tháng sẽ có kết quả, tiếp tục tập trong 12 tháng để duy trì kết quả. Bệnh nhân phải bỏ thuốc lá, thuốc lào. Chống kết tụ tiểu cầu bằng aspirin 75-160mg/ngày. Hạ lipid trong máu, phải hạ LDL-cholesterol dưới 70mg/dl và triglycerid dưới 150mg/dl.Hạ huyết áp, chất chẹn beta tỏ ra an toàn trong các trường hợp nhẹ đến trung bình và có lợi vì giảm biến chứng mạch vành.Kiểm soát tốt đái tháo đường, người bị đái tháo đường có tiên lượng xấu, có tổn thương ở nhiều nơi và ở động mạch nhỏ, tổn thương thường bị vôi hóa; Điều trị bằng thuốc: cilostazol có thể tăng khả năng đi sau 2-4 tuần. Có chỉ định phẫu thuật nếu triệu chứng không giảm, đau khi nghỉ, vết loét không lành. Nong động mạch có kết quả tốt khi chỗ hẹp ngắn, ở động mạch lớn như động mạch chủ, động mạch hông, động mạch đùi-nhượng. Giải phẫu được áp dụng trong các trường hợp hẹp nhiều nơi ở động mạch nhỏ hơn. Có thể bơm thuốc làm tan cục máu (thrombolytic) qua ống thông trong trường hơp thiếu máu chi cấp tính.
Nguồn: suckhoedoisong.vn (09/01/08)








