Các giá trị gia tăng từ protein chức năng trong các sản phẩm sữa cho heo
Ngưng dùng sản phẩm sữa trong thức ăn quá nhanh sau khi cai sữa có thể đẩy con vật vào tình trạng nguy cơ lớn đối mặt với các mầm bệnh do mất chức năng kháng vi khuẩn của sữa.
Môi trường dạ dày đường ruột cần phải được giữ trong một điều kiện tối ưu cho các chức năng tiêu hóa tối đa và duy trì cân bằng chính xác giữa các vi khuẩn có lợi so với các vi khuẩn có hại tiềm tàng. Độ pH là thiết yếu cho hoạt động enzyme hữu hiệu, tình trạng sức khỏe tổng quát của nhung mao ruột non và quần thể sinh vật cư trú. Một khối lượng lớn các vi khuẩn có lợi mà đại diện là Lactobacilli và Bifidibacter sẽ hỗ trợ sự phát triển và duy trì đường ruột khỏe mạnh. Sự cung cấp bất kỳ các hợp chất thích hợp nào làm tăng trưởng các Lactobacilli và Bifidibacter (prebiotic - chất trợ sinh) và hạn chế sự phát triển của các mầm bệnh (tĩnh khuẩn / diệt khuẩn) sẽ giảm thiểu rối loạn chức năng tiêu hóa và tăng cường năng lực của hệ thống miễn dịch để kháng lại bất kỳ các đe dọa bệnh tật nào.
Một số các nguyên lý cơ bản đã hoạt động tốt trong dinh dưỡng người có thể được ứng dụng cho động vật nông nghiệp. Heo đã được chọn lọc giống cao độ cho sự tích lũy protein và hình thành thịt nạc của heo. Đạt được toàn bộ tiềm năng di truyền trong môi trường chăn nuôi thương phẩm là thiết yếu cho năng suất chăn nuôi thú tối ưu và tăng tối đa lợi nhuận.
Các lợi ích dinh dưỡng của những sản phẩm từ sữa
Các thành phần hóa học của những sản phẩm sữa có thể được phân thành những nhóm dưỡng chất thực sự ảnh hưởng đến năng suất của thú nuôi và các thành phẩm hoạt tính có nhiều tính năng dinh dưỡng và dược học ảnh hưởng đến sinh lý động vật và vi khuẩn.
Các dưỡng chất thực sự bao gồm:
- Năng lượng
- Chất béo
- Protein và các acid amin
- Casein (đạm sữa)
- Các chất khoáng đa lượng (calcium, phosphorus, sodium, chloride, potassium)
Các thành phần chức năng hoặc dược tính là:
- Lactalbumin và Lactoglobulin
- Lactorerrin, Lactoperoxidase và Lysozyme
- Glycomacropeptide
Số lượng các thành phần này trong sữa bò được cho trong Bảng 1.
Bảng 1. Các thành phần protein trích từ sữa bò
Protein và thành phần Protein | Hàm lượng trong sữa, g/lít |
Protein tổng số | 36,0 |
Casein | 29,5 |
a -Casein | 15,0 |
b -Casein | 9,8 |
k -Casein | 3,5 |
g -Casein | 1,2 |
Protein váng sữa | 6,3 |
b -lactoglobulin | 3,2 |
a -lactoglobulin | 1,2 |
Albumin huyết thanh | 0,4 |
Globulin miễn dịch | 0,8 |
Peptones Protease | 1,0 |
Các chức năng dinh dưỡng
a) a -lactalbumin chiếm khoảng 25% hàm lượng protein váng sữa tổng số trong sữa bò. Albumin và immunoglobulins (globulin miễn dịch) là proteins trong máu sẽ kết hợp vào sữa và được phục hồi thành proteins váng sữa. Albumin huyết thanh liên kết với các acid béo cũng như những phân tử nhỏ khác. Các immunoglobulins gồm lgG1, lgG2, lgA và lgM và có thể thực hiện một số chức năng miễn dịch thụ động.
b) Lactoferrin là một protein liên kết và vận chuyển sắt nên làm gia tăng sự hấp thu sắt. Lactoferrin sữa bò bão hòa một phần với sắt, 15-20%. Hầu hết các hoạt tính kháng khuẩn của Lactoferrin liên quan đến ái lực mạnh với sắt liên kết và các vi khuẩn sống dựa vào dưỡng chất này (hiệu quả tĩnh khuẩn) hoặc ảnh hưởng trực tiếp đến màng tế bào vi khuẩn (ảnh hưởng diệt khuẩn). Bằng cách gia tăng hấp thu sắt, lactoferrin có thể làm giảm các trở ngại liên quan đến sự thiếu máu và cải thiện miễn dịch. Hoạt tính linh động của sắt cho phép nó hoạt động như một chất chống oxy hóa tự nhiên, làm tăng tuổi thọ động vật bằng cách giảm tế bào già cỗi, và có lợi chung cho sức khỏe tổng quát.
c) Lactoperoxidase là một enzyme từ sữa tự bản than không có hiệu quả kháng khuẩn. Khi liên kết với thiocyanate oxyd hóa và hydrogen peroxide, phản ứng hóa học tạo ra một hợp chất kháng khuẩn là các ion hypoiodite hoặc hypothiocyanate. Các ion này oxyd hóa chu trình trao đổi chất của vi khuẩn. Một số vi khuẩn có lợi như Streptococci và Lactobacilli, tạm thời bị ức chế nhưng sẽ hồi phục sau đó. Những loài khác, có hại hơn như E.coli, Salmonella và Pseudomonas thì bị tiêu diệt. Hệ thống này hoạt động trong các heo con theo mẹ nhưng có thể cũng vẫn ứng dụng trong thức ăn thú sau cai sữa.
d) Lysozyme là một enzyme tìm thấy trong sữa và lòng trắng trứng. Nó hoạt động chống lại một số vi khuẩn bao gồm E.coli và Salmonella. Cơ chế hoạt động là phá hủy sự hình thành cầu nối glycosidic giữa hai thành phần của peptidoglycan, một cấu từ của vách tế bào vi khuẩn.
e) Glycomacropeptide được tìm thấy trong thành phần protein của váng sữa ngọt. Nó có thể tạo độ ngon miệng nhờ kích thích cholecystokinase (CCK) tuyến tụy. Nó cũng là một prebiotic và chất kích thích miễn dịch.
f) Lactose thường được xem là một chất dinh dưỡng trong các sản phẩm váng sữa cần cho năng suất động vật. Tuy nhiên nó cũng có đặc tính trợ sinh tốt và có thể được dùng như là chất kháng khuẩn cho những con vật không dùng lactose (ví dụ như ở gia cầm), nhưng cùng lúc hoạt động như một hợp chất cần thiết cho các Lactobacilli.
ứng dụng các dẫn xuất của sữa cho những lợi điểm về sinh lý
1. Hoạt tính kháng khuẩn
Lactoferrin và hệ thống enzyme lactoperoxidase có thể được vận dụng như những chất kháng khuẩn tự nhiên trong chăn nuôi động vật khi mà các loại kháng sinh hỗ trợ tăng trưởng không còn được phép sử dụng. Các hợp chất xuất phát từ sữa có tiềm năng khác gồm chất béo, từ đó tạo ra những sản phẩm phân hủy tác nhân gây nhiễm trong khi tiêu hóa và các peptides kháng khuẩn ẩn khuẩn trong các phân tử casein.
2. Lactoferrin
![]() |
Hình 1: lactoferrin (LF) bò và điều trị bệnh thiếu máu |
Các vết loét dạ dày là một vấn nạn đang gia tăng trong các trại nuôi heo giống. Việc này có thể liên quan đến điều kiện chuồng nuôi, mức độ tiêu thụ thức ăn nước uống hoặc các "stress" do sinh sản cao và điều kiện cơ thể được nạc hóa hơn. Các vi khuẩn như Helicobacter pylori, đã được gán với những trường hợp loét dạ dày ở người và heo. Các nghiên cứu ở người chỉ ra rằng bổ sung thêm lactoferrin của bò trong các chương trình điều trị thông thường có khả năng làm giảm thiểu hoàn toàn ảnh hưởng của loét dạ dày, trong khi các chương trình điều trị không bổ sung thêm chỉ có thể giảm được tác hại khoảng 70 - 77%. Có sự gia tăng các trường hợp còi cọc và tử vong ở những trại heo gắn với rối loạn chức năng dạ dày và khả năng ứng dụng lactoferrin cần được nghiên cứu nhiều hơn.
3. Lactoperoxidase
![]() |
Hình 2: Ví dụ sản phẩm giá trị gia tăng trên cơ sở những dẫn xuất từ sữa với đặc tính kháng khuẩn |
Một phối hợp các protein chức năng từ sản phẩm váng sữa như lactoferrin, lactoperoxidase và lysozyme với những cơ chế tác động khác nhau có thể trở nên các chất kháng khuẩn rất hiệu lực và thực tế (hình 2).
Kết luận
* Các proteins sữa có những lợi ích chức năng ngoài những giá trị dinh dưỡng có sẵn
* Sức khỏe đường ruột của heo được duy trì tốt hơn bằng cách cho ăn kéo dài bột sữa sau khi cai sữa mẹ.
* Cho ăn protein váng sữa giúp giảm bớt mức sử dụng thuốc phòng trị
* Tối ưu hóa tiềm năng di truyền được thực hiện khi sử dụng các protein sữa
Nếu bạn cần thêm thông tin chi tiết liên quan đến các sản phẩm sữa của Hoa Kỳ như đường lactose, váng sữa, sữa bột và những sản phẩm khác, xin vui lòng liên hệ địa chỉ sau:
Ông Ben Yuan
Trưởng Đại Diện
Hiệp Hội Xuất Khẩu Sữa Hoa Kỳ tại Việt Nam
Website:www.usdec.org
Tel: 08-822-8804
Fax: 08-291-3110
Mobile : 0919-597703
E-mail: beny@prcon.com









