Các biện pháp ngừa thai dành cho phụ nữ
Ngừa thai là ngăn chặn một hay nhiều mắt xích trong quá trình thụ thai, như: ngăn cản trứng rụng, không cho trứng và tinh trùng gặp nhau, ngăn cản trứng thụ tinh bám vào niêm mạc tử cung (không cho đậu thai)… Ngừa thai bao gồm nhiều biện pháp, chỉ tính riêng biện pháp dành cho phái nữ đã có thuốc ngừa thai, đặt vòng (dụng cụ tử cung), tránh ngày trứng rụng (theo cách tính Ogino – Knauss hay đo thân nhiệt, theo dõi chất nhầy cổ tử cung). mũ cổ tử cung, màng ngăn âm đạo, thuốc diệt tinh trùng. Trong đó, biện pháp dùng thuốc ngừa thai và đặt vòng được sử dụng nhiều nhất.
Thuốc ngừa thai
Từ khi phát hiện ra các nội tiết tố sinh dục và biết tác dụng ức chế sự rụng trứng, người ta đã dùng vào việc tránh thai. Đến năm 1954, khi tổng hợp được các progesteron ở dạng uống thì viên thuốc tránh thai chính thức ra đời và đến nay đã được sử dụng rộng rãi khắp thế giới.
Thuốc ngừa thai có tác dụng ức chế sự rụng trứng, làm niêm mạc tử cung trở nên không thích hợp cho trứng làm tổ, chất nhầy cổ tử cung đặc lại nên cản trở tinh trùng bơi qua. Đây là phương pháp kín đáo và thuận tiện. Đặc biệt phù hợp với những bạn gái có các hội chứng phụ khoa như thống kinh, kinh nhiều, rong kinh cơ năng, chu kỳ kinh không đều. Tuy nhiên, có những trường hợp không được dùng là: ung thư vú, ung thư cổ tử cung khối u ở vú và tử cung; có tiền sử nghẽn mạch, phồng tĩnh mạch viêm tắc tĩnh mạch; các bệnh về máu, rối loạn đông máu; các bệnh tim mạch; các bệnh nội tiết như Basedow, u tuyến thượng thận; các rối loạn chuyển hoá như đái tháo đường, rối loạn mỡ máu. Các bệnh về gan, thận, khớp; những bạn gái còn quá trẻ, chưa có con, kinh muộn hoặc kinh thưa.
Vì vậy, khi muốn sử dụng thuốc ngừa thai, bạn gái cần đến khám phụ khoa và sức khoẻ tổng quát, làm các xét nghiệm chức năng gan, thận, chuyển hoá. Trong thời gian dùng thuốc, nếu có ra máu giữa kỳ kinh hay ra kinh nhiều, phải đến tái khám và đổi loại thuốc khác; nếu mất kinh thì ngưng thuốc và chuyển sang biện pháp ngừa thai khác.
Thuốc viên ngừa thaicó hai loại:
- Loại kết hợp:gồm hai thành phần là estrogen và progestogen, tuỳ theo hãng sản xuất mà vỉ thuốc có thể 21 hoặc 28 viên. Vỉ 28 viên có 7 viên cuối là thuốc bổ (thường là sắt) có thể uống trong những ngày có kinh. Uống thuốc bắt đầu từ ngày thứ 5 của chu kỳ kinh, liên tiếp mỗi ngày một viên vào một giờ nhất định để khỏi quên, hết 21 viên sẽ có kinh trong vài ngày sau. Nếu dùng loại vỉ 21 viên thì ngưng 7 ngày rồi uống tiếp vỉ mới, nếu loại 28 viên thì uống tiếp 7 viên thuốc bổ 7 ngày rồi qua vỉ mới.
- Loại chỉ chứa progesteron:vỉ thuốc có 28 viên, dùng cho phụ nữ cho con bú hoặc vì bệnh lý không được dùng estrogen.
Trong thời gian dùng thuốc ngừa thai, nếu quên uống một viên thì uống ngay vào lúc nhớ ra và ngày hôm đó vẫn tiếp tục uống một viên như thường lệ. Nếu quên uống hai ngày, ngừng uống thuốc và dùng phương pháp tránh thai khác.
Ngoài ra, còn có loại thuốc ngừa thai khẩn cấp dùng sau giao hợp, chứa progestogen hàm lượng cao, có nhiều tác dụng phụ, chỉ nên sử dụng tối đa 4 viên trong một tháng.
Thuốc tiêm ngừa thai
DMPA, Depo - Medroxy hay Depo Provera, liều 150 mg, tiêm vào ngày thứ 5 của vòng kinh, ngừa thai được 3 tháng; hiệu quả tránh thai 99,7% - 99,8%. Tuy nhiên có tác dụng phụ là gây mất kinh sau khi ngưng thuốc hoặc rong kinh. Sau khi tiêm thuốc cần theo dõi tính chất kinh nguyệt và khám vú - khám phụ khoa định kỳ.
Đặt dụng cụ tử cung
![]() |
| Các loại dụng cụ tử cung. |
Vòng tránh thai có tác dụng như một vật lạ trong vòng tử cung, gây ra những thay đổi không thuận lợi cho sự làm tổ của trứng đã thụ tinh.
Có nhiều loại vòng: loại không có thuốc (trơ) và loại có tẩm đồng hay tẩm progestogen. Loại tẩm đồng có tác dụng tăng phản ứng viêm, thay đổi hoạt tính sinh hoá của chất nhầy cổ tử cung, ảnh hưởng đến sự di động và khả năng sống sót của tinh trùng. Loại vòng có progestogen ngăn hoạt động chu kỳ của nội mạc tử cung, do nồng độ progestogen trong lòng tử cung cao hơn estrogen nên nội mạc tử cung luôn luôn ở tình trạng thụ tinh làm tổ, tuy nhiên lượng progestogen chỉ cao tại chỗ, còn trong máu thì không thay đổi. Một số loại vòng phóng thích progestogen tổng hợp có tác dụng mạnh đôi khi ngăn sự rụng trứng.
Đặt vòng là phương pháp tránh thai phục hồi được, khi lấy vòng ra thì có thể có thai lại bình thường. Đối với sức khoẻ toàn thân, đặc vòng không ảnh hưởng đến cơ chế đông máu, huyết áp, chuyển hoá, không gây u nội mạc. Tỷ lệ ngừa thai là 95 - 97%, nếu vòng có tẩm thuốc thì tỷ lệ này cao hơn.
Tuy nhiên, đặt vòng cũng có một số bất lợi:
- Rơi vòng mà không biết, có thai ngoài mong muốn; chiếm khoảng 2 - 5%, thường xảy ra trong 3 tháng đầu sau đặt.
- Sau khi đặt xong có thể rong kinh ở vài kỳ kinh đầu. Nếu ra huyết nhiều và kéo dài, điều trị không kết quả, gây tình trạng mất máu thì phải lấy vòng ra.
- Có thể có cảm giác nặng vùng hạ vị, đau lưng, đau quặn do cơn co tử cung, sau vài giờ có thể tự hết hay hết do dùng thuốc giảm đau; nếu đau nhiều phải tìm nguyên nhân hoặc lấy vòng ra.
- Ra nhiều huyết trắng do phản ứng của nội mạc tử cung, sẽ giảm dần nếu không có nhiễm khuẩn.
- Nhiễm khuẩn có thể xảy ra nếu thực hiện thủ thuật thiếu vô khuẩn hay đặt vòng ở những người bị viêm âm đạo, cổ tử cung, tử cung, mà chưa điều trị khỏi.
- Thủng tử cung là biến chứng rất hiếm gặp, xảy ra âm thầm, do vòng chui từ từ vào một lỗ sang chấn nhỏ, xuyên qua thành tử cung vào ổ bụng. Trường hợp này chỉ được phát hiện khi muốn lấy vòng ra mà không tìm thấy, phải chụp X quang để xác định vị trí vòng.
- Có thai trong khi đặt vòng, có thể do tử cung co bóp làm vòng thay đổi vị trí, vòng quá nhỏ so với buồng tử cung, vòng để thời gian lâu hơn qui định của nhà sản xuất.
- Có thể có thai ngoài tử cung khi đặt vòng.
Hiện nay, người ta thường đặt vòng có dây để tiện theo dõi xem vòng còn nằm trong lòng tử cung không. Ở Việt Nam, hai loại vòng đang được sử dụng là Multiload 375 và tcu 380A, đều có bọc đồng xung quanh để tăng hiệu quả ngừa thai, thời gian nằm trong lòng tử cung tối đa của Multiload 375 là 5 năm và của tcu 380A là 10 năm. Nếu muốn ngừa thai tiếp, cần đến cơ sở y tế để thay vòng mới.
Nguồn: Thuốc & Sức khoẻ, số 351, 1 - 3 - 2008, tr 6









