Các bệnh tuyến giáp
Basedow là một trong những bệnh nội tiết phổ biến nhất, thường gặp ở phụ nữ khoảng 20 đến 40 tuổi. Phần lớn bệnh nhân có kích thước tuyến giáp tăng gấp hai, gấp 3 lần so với bình thường, tế bào tăng sinh và tăng mức tiết hormon lên gấp 5 - 15 lần so với bình thường.
Nhìn một bệnh nhân Basedow sẽ thấy bướu tuyến giáp di động theo nhịp thở, sờ không đau, có cảm giác căng, đôi khi tay sờ cảm nhận được tiếng rung tâm thu hay tiếng thổi mạch máu. Trong quá trình bệnh nặng lên, bướu có những đợt diễn tiến to ra.
Triệu chứng của bệnh gồm có:
Các biểu hiện do tác dụng quá mức của hormon giáp, bao gồm:
- Nhịp tim nhanh, tim dễ bị kích thích, có thể có ngoại tâm thu và đôi khi rung nhĩ, lâu ngày có thể xuất hiện suy tim.
- Thần kinh dễ bị kích thích, mất ngủ, lo âu. Đôi khi có rối loạn thần kinh và tâm thần.
- Tăng thân nhiệt, sợ nóng, da ẩm, vã mồ hôi.
- Run nhẹ các đầu chi, tăng khi bệnh nhân xúc động. Khi yêu cầu bệnh nhân đứng, đưa thẳng hai tay ra phía trước sẽ thấy các ngón tay run run.
- Hay mệt. Hay bị tiêu chảy. Yếu bắp cơ, lâu ngày có thể bị teo cơ.
- Gầy đi mặc dù có những thời gian ăn nhiều.
Dấu hiệu ở mắt:
![]() |
- Ngoài ra, còn có một số dấu hiệu đã được gọi bằng tên của người đã phát hiện ra dấu hiệu. Thí dụ: Dấu hiệu Stellwag: mi mắt ít chớp và có tình trạng co rút và giật mi trên. Dấu hiệu Gracf: mất đồng bộ giữa cử động của nhãn cầu và mi trên khi mắt nhìn xuống phía dưới. Dấu hiệu Moebius: mất khả năng quy tụ của hai nhãn cầu. Dấu hiệu Joffroy: mất đồng bộ giữa cử động của cơ trán và mi trên, nên không thấy nhăn trán khi nhìn lên phía trên.
Dấu hiệu ở da
Rụng tóc, mi mắt bị nhiễm sắc tố hoặc mất sắc tố. Phù cứng phần da ở mắt trước cẳng chân và mu bàn chân.
Bệnh diễn tiến thành từng đợt, có khi trùng hợp với tình trạng stresss hoặc chấn thương tâm thần, 25% trường hợp bệnh tự giảm trong vòng 2 - 3 năm.
Điều trị nhằm mục tiêu chặn đứng sự tăng tiết hormon của tuyến giáp
- Thuốc kháng giáp tổng hợp:dùng cho trường hợp nhẹ hoặc trung bình, bệnh nhân còn trẻ. Khi dùng thuốc cần theo dõi chức năng tuyến giáp để điều chỉnh liều lượng cho thích hợp. Nhận thấy kết quả sau 6 - 12 tuần điều trị, khi đó giảm dần cho tới liều tối thiểu mà tuyến giáp được duy trì ở trạng thái bình thường. Liều duy trì được kéo dài trong 1 - 2 năm. Sau khi ngưng điều trị có 30% số trường hợp bị tái phát.
Một số thuốc được sử dụng:
+ Propylthiouracil: liều khởi đầu 100 - 300 mg mỗi ngày, chia 3 lần cho tới khi cải thiện triệu chứng và hàm lượng thyroxin trong huyết tương trở về bình thường.
+ Carbimazol: 10 - 15mg mỗi 8 giờ một lần.
+ Thiamazol: 10 - 15mg mỗi 8 giờ một lần.
+ Benzylthiourazol: 150 - 200mg mỗi ngày.
- Iod phóng xạ:để phá huỷ mô tuyến giáp tăng hoạt. Liệu pháp này được dùng ở những bệnh nhân trên 40 tuổi, không dùng trong trường hợp mang thai. Tác dụng phụ là tăng năng tuyến giáp trong một hai tuần sau khi liệu pháp iod phóng xạ và càng nặng thêm nếu sử dụng dung dịch Lugol trước iod phóng xạ.
- Cắt bỏ một phần tuyến giáp: được chỉ định trong những trường hợp nặng, bướu giáp lớn, bệnh nhân còn trẻ, không dung nạp các thuốc kháng giáp...
Điều trị triệu chứng:
Thuốc chẹn beta và thuốc an thần để giảm nhịp tim, vã mồ hôi, run, lo âu... kết hợp nghỉ ngơi.
Lưu ý: Bệnh nhân Basedow không được dùng các thức ăn hay uống có chứa iod, vì tuyến giáp đang tình trạng tăng hoạt động lại được cung cấp thêm nguyên liệu nên càng tăng tiết hormon, gây triệu chứng nặng hơn. Dùng nhiều iode không phải là nguyên nhân gây bệnh Basedow mà chỉ làm bùng phát bệnh đã có sẵn.
Nguồn: Thuốc & Sức khoẻ, số 344, 15 - 11 - 2007, tr 26.









