Các bệnh do thiếu i-ốt có quay trở lại?
Vi chất cần cho trí não
Người ta gọi là vi chất dinh dưỡng vì cơ thể chỉ cần một lượng nhỏ nhưng nếu thiếu sẽ gây nhiều tác hại. Trong số những vi chất cần thiết đó là vitamin A, sắt, kẽm, canxi, i-ốt… I-ốt cần cho sự tăng trưởng và hoạt động trí não mà cơ thể chỉ cần một lượng rất nhỏ, 100 - 200mcg/ngày, và chỉ cần ăn muối i ốt hàng ngày là đã bổ sung đầy đủ cho sự tối cần thiết này.. Chức năng quan trọng của i-ốt là tham gia tạo hormon T3 (Triiodothyronin) và T4 (Thyroxin). Đây là hormon rất cần thiết cho sự phát triển bình thường của não, làm tăng quá trình biệt hóa tế bào não và tham gia vào chức năng của não bộ. Bên cạnh chức năng chuyển hóa cơ thể, hormon giáp còn tham gia trong việc chuyển đổi Bê - caroten thành vitamin A, tổng hợp protein, hấp thu chất bột đường ở ruột non… Nếu thiếu thì vô cùng tai hại.
Trẻ em trong độ tuổi phát triển nhanh và phụ nữ có thai là những đối tượng rất dễ bị thiếu i ốt do nhu cầu tăng cao. Sự thiếu i-ốt ở hai đối tượng này sẽ gây r a những hậu quả hết sức trầm trọng. Vì i-ốt rất cấn thiết cho sự phát triển cơ thể, sự hình thành và hoạt động của não bộ nên thiếu i-ốt ở giai đọan bào thai thì não bộ sẽ bị tổn thương nặng nề. Trẻ sanh ra sẽ bị đần độn, có thể sẽ bị các khuyết tật về thần kinh (điếc, lác mắt, khoèo tay chân…). Phụ nữ mang thai nếu thiếu nó sẽ dễ bị sẩy thai, thai chết lưu hoặc sanh non…Các em học sinh nếu thiếu i-ốt sẽ giảm thành tích học tập do khả năng tập trung kém. Những nghiên cứu trên thế giới cũng cho thấy, những người sống trong vùng bị thiếu i-ốt sẽ bị giảm từ 10 - 20 điểm chỉ số IQ. Tổ chức Y tế Thế giới cũng cảnh báo: “Thiếu hụt i-ốt là nguyên nhân hàng đầu gây tổn thương não mà chúng ta có thể phòng ngừa được và biện pháp phòng ngừa hiệu quả nhất, bền vững nhất là dùng muối i-ốt toàn dân (Nhà nước cấm lưu hành muối không trộn i-ốt trên thị trường).
“Nạn đói” tiềm ẩn
Người thiếu vi chất không thấy “đói” và không hề biết mình đang thiếu hụt. Chỉ có thể phát hiện thông qua các xét nghiệm sinh hóa chuyên biệt. Thiếu i-ốt dẫn đến các rối loạn mà điển hình là bệnh bướu cổ, làm ảnh hưởng đến sức khỏe, thẩm mỹ và điều trị tốn kém lâu dài. Song bướu cổ chỉ là một biểu hiện dễ nhận thấy nhất mà thôi. Các ảnh hưởng khác đối với sức khỏe và phát triển xã hội còn lớn hơn nhiều như giảm trí tuệ, khả năng học hành của các thế hệ thanh thiếu niên, giảm khả năng tư duy sáng tạo, năng suất hiệu quả làm việc của người lao động bị kém. Phụ nữ có thai bị thiếu sẽ làm tăng tai biến sản khoa, hay sảy thai, thai chết lưu. Con đường duy nhất mà các nước trên thế giới đã đi qua là dùng muối i-ốt thay cho muối thường. Đây là cách bền vững nhất, hiệu quả cao mà lại ít tốn kém và an toàn. Hiện tại dân của họ vẫn đang tiếp tục dùng muối i-ốt để phòng bệnh trở lại. Các thức ăn từ biển rất giàu i-ốt nhưng không đủ (và khá mắc) cho toàn dân ăn hàng ngày.
Thập niên 80, tỉ lệ bướu cổ ở VN rất cao, từ 50 -80% ở các tỉnh miền núi và vùng đồng bằng sông Hồng và Cửu Long từ 20 - 60%. Từ năm 1992, Chính phủ đã thành lập Chương trình quốc gia phòng chống các rối loạn thiếu i ốt và đặt tại Bộ Y tế, dưới sự hỗ trợ và giám sát của UNICEF. Chương trình đã tiến hành tổng điều tra đánh giá trình trạng thiếu hụt i-ốt trên cả nước và kết quả là 94% dân số VN có i-ốt niệu < 10mcg/dl, tức bị thiếu (đầy đủ phải >10 mcg/dl). Tiếp theo, năm 1994, Chính phủ đã ra Nghị quyết 481/TTg về việc “Tổ chức và vận động toàn dân dùng muối i-ốt” và Nghị định 19/CP với nội dung chính là muối ăn và muối chế biến thực phẩm phải được trộn i-ốt theo tiêu chuẩn quy định, cũng có nghĩa là cấm lưu hành muối thường trên thị trường. Từ đó đến năm 2005, nước ta đã thanh toán các rối loạn do thiếu i-ốt. Thế nhưng chỉ sau 2 năm kết thúc dự án mục tiêu quốc gia, tình hình thiếu hụt i-ốt có xu hướng quay trở lại. Tình hình nghiệm trọng là ở khu vực miền Đông và Tây Nam bộ. Đại diện của UNICEF cũng cảnh báo tình hình nghiêm trọng này tại VN.
I-ốt cần thiết như vậy nhưng chỉ với một lượng nhỏ là đủ mà chỉ cần sử dụng muối có trộn i-ốt thay cho muối thường khi ăn hay chế biến thực phẩm chứ không cần phải ăn mặn hơn bình thường. Muối i-ốt hoàn toàn giống muối thường về màu sắc và mùi vị. Do hàm lượng bổ sung rất nhỏ (50ppm, tức 50 phần triệu) nên không thể phân biệt được với muối thuờng. Sử dụng muối i-ốt cũng giống như muối thường khi nêm nếm đồ ăn, ướp cá, muối dưa cà. Qua nấu nướng một phần sẽ bay đi nhưng khi bổ sung i-ốt vào muối, người ta đã tính toán cả phần hao hụt này sao cho lượng i-ốt còn lại đủ đáp ứng nhu cầu cho người ăn. “Chúng ta chỉ sống trên cõi đời này có một lần. Một đứa trẻ chỉ có một thời niên thiếu. Chúng cần có đủ các vi chất dinh hưỡng. Đó là nhiệm vụ cần thiết của chúng ta và sự chậm trễ sẽ dẫn tới nguy cơ bị mất mát thêm một thế hệ nữa”. Vì thế, mỗi gia đình hãy tự bảo vệ sức khỏe cho các thành viên bằng cách thay muối thường bằng muối i-ốt.
Những thực phẩm giàu i-ốt - Tỏi ta : 94 mcg (đơn vị tính (mcg) i-ốt trong 100 gam thực phẩm) - Cá trích: 52 - Cá thu: 45 - Nấm mỡ: 18 - Súp lơ: 12 - Củ cải trắng: 8 - Cá chép: 4 - Sữa bò tươi: 9,9 - Đậu phộng: 6,8. (Nguồn : Trung tâm dinh dưỡng TP.HCM) Những số liệu đạt được năm 2005 - Độ phủ muối đủ tiêu chuẩn phòng bệnh: 93,2% - Mức i-ốt niệu trung vị luôn duy trì: 10mcg/dl - Tỉ lệ bướu cổ trẻ em giảm: từ 10,1% xuống còn 3,6% - Kiến thức hiểu biết của người dân về muối i-ốt: 90% Số liệu 2007 - Độ phủ muối đủ tiêu chuẩn phòng bệnh: 88,6% - Kiến thức hiểu biết của người dân về muối i-ốt : không quá 40%. - Độ phủ muối tại TP.HCM là 46,4%/ 66,7% năm 2005 - Mức i-ốt niệu trung vị: giảm nhiều ở tỉnh thành, qua điều tra canh chừng, đặc biệt ở TP.HCM và Trà Vinh. (Nguồn: Bệnh viện Nội tiết) |
Nguồn: Thực phẩm và Đời sống, 12/2007








