Bỏng mắt do hoá chất
Bỏng mắt do hoá chất là tai nạn lao động có thể xảy ra ở công nhân sản xuất hay xây dựng và nhân viên phòng thí nghiệm. Nếu không được sơ cứu kịp thời và đúng cách thì nạn nhân có thể bị mù loà suốt đời.
Các hoá chất gây bỏng bao gồm hai loại chính là axit và kiềm. Chất kiềm thường gặp là xút và vôi.
Ngay sau khi tai nạn xảy ra, nạn nhân cảm thấy đau buốt hoặc cay xè mắt, mắt nhắm tịt lại, chảy nước mắt giàn giụa. Nếu cố mở mắt cũng thấy mờ hẳn đi, không nhìn ra người chung quanh, chói mắt, sợ ánh sáng.
Tuỳ theo hoá chất gây bỏng mà diễn tiến vết thương sẽ khác nhau
Bỏng do axit:vì có khả năng ăn mòn mạnh, nên vết bỏng thường lan rộng ra mi mắt, nhưng cũng do axit có đặc tính kết tủa protein, đã tạo nên “bức tường” bảo vệ không cho axit thấm sâu vào trong, do đó vết bỏng axit rộng nhưng không sâu và tổn thương ban đầu cũng là tổn thương chính.
Bỏng do chất kiềm:do khả năng ăn mòn của chất kiềm không cao nên vết bỏng không rộng, nhưng chất kiềm sẽ ngấm qua kết mạc và giác mạc, đi vào tiền phòng, thuỷ tinh thể, dịch kính và võng mạc; gây tổn thương tiếp diễn trong thời gian sao đó và tổn thương này nặng hơn tổn thương ban đầu.
Xử trí
Nguyên nhân cơ bản là phải loại trừ (hoặc làm giảm nồng độ) hoá chất gây bỏng ra khỏi mắt bằng cách rửa mắt dưới vòi nước chảy hay dùng bơm tiêm (đã tháo kim ra) xịt rửa, thời gian ít nhất là 15 phút một mắt. Riêng trường hợp bỏng do vôi cục, vôi bột; phải gắp hay dùng bông sạch lấy hết vôi ra trước khi rửa mắt. Cần tuyệt đối tránh dùng axit để trung hoà kiềm hay ngược lại dùng kiềm để trung hoa axit vì mắt người không phải ống nghiệm, phản ứng giữa hai hoá chất sẽ sinh nhiệt, gây bỏng do nhiệt, tổn thương nặng hơn, hoá chất sẽ lan rộng ra và đi sâu hơn.
Sau khi rửa mắt, cho bệnh nhân dùng kháng sinh và thuốc giảm đau rồi chuyển đến bệnh viện chuyên khoa mắt.
Tại cơ sở chuyên khoa mắt , nạn nhân sẽ được đo độ pH mắt, nếu pH còn ở độ kiềm hay toan (axit), thì tiếp tục rửa bằng dung dịch nước muối đẳng trương NaCl 0,9% cho đến khi pH bằng 7. Trường hợp bỏng do chất xút,hoá chất vẫn tiếp tục ngấm sâu vào gây thương tổn, cần rửa mắt liên tục bằng cách nhỏ giọt qua hệ thống dây truyền dịch (đã rút kim), đồng thời rửa lệ đạo để tránh viêm dính về sau. Nếu nhận thấy rửa mắt không thể loại trừ hết hoá chất, cần chọn rửa tiền phòngđể làm sạch chất kiềm, không cho hoá chất ngấm sâu hơn.
Để hạn chế nhiễm khuẩn và dính mi mắt – nhãn cầu, cần tra thuốc mỡ kháng sinh có phổ kháng khuẩn rộng, chú ý tra cả phần cùng đồ trên và dưới, day nhẹ nhiều lần trong ngày. Có thể đặt khuôn chống dính, nhưng khuôn làm bệnh nhân khó chịu.
Để phòng dính móng mắt vào mặt trước thuỷ tinh thể,tra Atropin ngày 2 lần, mỗi lần 1 giọt.
Những ngày sau đó cần tăng cường dinh dưỡngcho kết mạc, giác mạc bằng cách tra các loại thuốc có chứa vitamin A, B, C; chế độ ăn giàu protein và vitamin.
Nếu kết mạc phù nhiềudo hoá chất ngấm vào và đọng lại thì rạch kết mạc để hoá chất thoát ra theo phẫu thuật Passow - Poliak.
Nếu kết mạc hoại tử nặng, không còn khả năng phục hồi thì cắt bỏ hết và lấy niêm mạc môi vá vào, gọi là phẫu thuật Doenig.
Sau khi lành về bỏng, có thể có những biến chứng hay di chứngcần điều trị tiếp như: tăng nhãn áp, đục thuỷ tinh thể, thủng giác mạc, viêm màng bồ đào, quặm mi, dính mi mắt – nhãn cầu, tắc lệ đạo, sẹo giác mạc, khô mắt.
Phòng ngừa bỏng mắt do hoá chấtbằng cách luôn luôn mang kính bảo hộ khi thao tác có hoá chất.
Nguồn: Thuốc & Sức khoẻ, số 355, 1 - 5 - 2008, tr 19







