Bộ lịch sử Việt Nam qui mô nhất, lớn nhất
Tạ Ngọc Liễn (T. N. L): Nếu so với các bộ lịch sử đã được biên soạn trong vòng 50 năm qua thì bộ L. S. V. N lần này có quy mô lớn nhất: 15 tập, mỗi tập dày từ 600 đến 700 trang khổ 16 x 24 cm. Ví dụ, 4 tập được Nhà xuất bản Khoa học xã hộiấn hành cùng lúc vào đầu năm 2007, thì: Tập II (thế kỷ XV - XVI) dày 681 trang; tập IV (thế kỷ XVII - XVIII) 706 trang; tập VIII (1919 - 1930) 621 trang; tập X (1945 - 1950) 657 trang. Có gần 20 tác giả tham gia viết, đều là PGS, TS công tác ở Viện Sử học, do PGS. TS Trần Đức Cường, Phó Chủ tịch Viện Khoa học xã hội Việt Nam phụ trách chung.
A.Ch:Quả là một bộ sử đồ sộ về số lượng trang chữ. Còn về nội dung khoa học? Bạn đọc và giới quan tâm cần biết là, sách có những vấn đề mới mẻ gì, thể hiện được nội dung đổi mới thật sự của Sử học nước nhà?
T.N.L:Từ kinh nghiệm nghiên cứu lịch sử Việt Nam, tôi thấy ở nước ta từ xưa đến nay, trên mọi lĩnh vực tư duy, trong đó có sử học, thường vẫn có những khát vọng đổi mới; song không hiểu sao, chưa có lĩnh vực nào xuất hiện những trí tuệ lớn thực sự đổi mới và tạo được một bước ngoặt mới về tư duy mang tính đột phá, mở đường! Giới sử học cũng trong tình trạng chung đó thôi...
A. Ch:Trong nghiên cứu sử học, như tôi nghĩ có được cách nhìn mới về những tư liệu mới, với cách viết mới nữa, đã thật quí rồi. anh hãy nói thêm về những điểm mứoi ở bộ L.S.V.N 15 tập mà tôi tin là sẽ khá thú vị.
T.N.L:Nếu các công trình viết về lịch sử Việt Nam ta trước đây, dường như các tác giả tập trung nhiều vào nghiên cứu và trình bày về những cuộc chiến tranh chống ngoại xâm, những cuộc khởi nghĩa nông dân... mà chưa chú ý đến lịch sử xay dựng, phát triển kinh tế, xã hội, lịch sử văn hoá, văn minh; thì, trong bộ L.S.V.N 15 tập, chúng tôi sẽ bổ khuyết những vấn đề đó. Lịch sử nước ta không chỉ là lịch sử dân tộc Kinh, mà là lịch sử của cả cộng đồng các dân tộc anh em từ Mũi Cà Mau đến địa cầu phân giới phía Bắc. Trong bộ Lịch sử VN 15 tập chúng tôi thể hiện rõ thực tế lịch sử đó. Trong tiến trình lịch sử Việt Nam, vai trò tích cực của vương triều Hồ, vương triều Mạc, vương triều Nguyễn cũng như công lao mở mang, xây dựng, phát triển kinh tế, xã hội ở Đàng Trong của các chúa Nguyễn cũng được khẳng định ở bộ LSVN 15 tập...
A.Ch: Có một thực tế là, một số cuốn thông sử xuất bản trước đây thường viết theo lối “sử bình”, thiên về bình luận lịch sử hơn là cung cấp các sự kiện lịch sử, tức là ít các tri thức lịch sử cụ thể, khiến độc giả đọc các sách về lịch sử nhưng không thấy sử. Các anh có suy nghĩ gì về thực tế đó?
T.N.L:Cách đây gần 20 năm tôi đang làm ở Viện Phương Đông thuộc Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô (cũ), một lần, anh Maxloop, nhà Việt Nam học của Liên Xô, nói với tôi rằng: “Tôi đang dịch chuyển Lịch sử Việt Nam(tập I) từ tiếng Việt ra tiếng Nga. Đây không phải là sử... Tôi phải bỏ đi rất nhiều, những câu rỗng tuếch với các từ “anh hùng”, “bất khuất”, “kiên cường”...
A.Ch: Không phải những lời bình làm nên sức sống của bộ sử, mà là tư liệu lịch sử và trình độ khoa học nhân văn của người viết?
T.N.L:Đúng vậy, là sử liệu và cách nhìn nhận khoa học và nhân bản. Mấy ngàn trang sách của chúng tôi sẽ đậm đặc các sự kiện lịch sử... Và, sẽ rất ít những lời bình luận chủ quan. Mà hình như, tôi đã nói vượt quá phạm vi của mình, vì tôi chỉ làm chủ biên LSVN tập III (thế kỷ XV - XVI).
A.Ch: Đấy là hai thế kỷ có nhiều sự kiện quan trọng của lịch sử nước Việt ta. Vậy thì anh hãy nói về giai đoạn lịch sử ấy đi.
T.N.L:Nhóm biên soạn chúng tôi (PGS. TS Tạ Ngọc Liễn, TS. Nguyễn Thị Phương Chi, TS. Nguyễn Đức Nhuệ, PGS. TS. Nguyễn Minh Tường và TS. Vũ Duy Mền) đã thực sự thấy đó là có cái mới trong LSVN tập III. Thí dụ: Ngoài việc đánh giá lại vai trò lịch sử của nhà Hồ và nhà Mạc, chúng tôi đã dành một chương trong LSVN tập III để viết về tổ chức hành chính - xã hội làng xã, một vấn đề chưa có bộ thông sử nào trước đây đặt ra. Trong khi đó, trên thực tế phát triển của xã hội Việt Nam hàng ngàn năm qua, tổ chức làng xã có vai trò vô cùng quan trọng. Có thể nói, lịch sử xã hội Việt Nam bao đời nay tồn tại, phát triển được chính là nhờ dựa trên nền tảng cấu trúc vững chắc của làng xã...
A.Ch:Tôi nghĩ, từ trước đến nay, giới sử học nước ta hầu như cho rằng, từ thế kỷ XV ở Việt Nam, Nho giáo, đặc biệt là Tống nho, được độc tôn thành tư tưởng trị nước. xin anh cho ý kiến.
T.N.L:Trong khi trình bày lịch sử Việt Nam thế kỷ XV - XVI, chúng tôi có quan điểm không như vậy. Thực tế lịch sử cho thấy, thế kỷ XV, nhất là dưới thời Lê Thánh Tông, bên cạnh việc tôn sùng Nho giáo, nhà Lê còn đề cao tư tưởng pháp trị, lấy luật pháp để trị nước. Ở thế kỷ XV - XVI, văn hoá Nho giáo nổi trôi nhưng dấu ấn của Phật giáo và Đạo giáo cũng rất đậm nét. Đặc biệt, sang thế kỷ XVI, trào lưu Phật giáo, Đạo giáo càng mạnh lên, có ảnh hưởng không chỉ trong nhân dân mà cả trong đời sống cung đình.
A.Ch: Trong hai thế kỷ đó, sự dung hợp Nho - Phật - Lão vẫn là yếu tố nền tảng quan trọng trong đời sống tinh thần của người Việt ta?
T.N. L:Đúng vậy!
A.Ch: Xin anh nói tiếp về những vấn đề lớn của lịch sử?
T.N.L:Trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, các mối quan hệ với Nhà nước phong kiến Trung Quốc bao giờ cũng là vấn đề lớn mà vương triều nào cũng phải tính toán, ứng phó, nhất là vấn đề quan hệ biên giới giữa hai nước. Tiếc rằng, đối với vấn đề quan trọng này, lâu nay giới sử học Việt Nam lại né tránh, không đề cập trong các công trình nghiên cứu của mình. Trong khi đó, ở Trung Quốc xuất bản khá nhiều sách viết về lịch sử biên giới Việt - Trung, tất nhiên là theo quan điểm của họ. Trong LSVN tập III, trên cơ sở các nguồn sử liệu cổ của Việt Nam và Trung Quốc, chúng tôi đã trình bày một cách khách quan những gì từng xảy ra trên dọc biên giới Việt Nam và Tủng Quốc giai đoạn thế kỷ XV - XVI, nhằm khôi phục sự thật lịch sử đã diễn ra rất căng thẳng trong tranh chấp lãnh thổ ở vùng biên giới phía Bắc nước ta, song cuối cùng mọi phức tạp của vấn đề đều được giải quyết ổn thoả. Điển hình là ở thời trị vì của vua Lên Thánh Tông, một vị vua đầy ý chí tự cường dân tộc, không chịu nhân nhượng để mất dù một tấc đất của Tổ tiên.
A.Ch: Hình như anh đang nói về trách nhiệm của nhà sử học là phải viết sự thật lịch sử?
T.N.L:Tôi luôn nghĩ, khoa học lịch sử là khoa học của đạo đức. Là đạo đức, vì nó luôn trọng sự thật, không né tránh sự thật. Còn, “sự thật lịch sử” là một vấn đề không dễ bàn luận một cách đơn giản. Giới sử học trên thế giới từng tranh cãi rất nhiều xung quanh câu hỏi có sự thật lịch sử hay không?Tôi xin khất nợ anh câu trả lời này. Và cảm ơn, vì anh là một nhà thơ, nhưng lại quan tâm đến sử học một cách sâu sắc.
A.Ch: Bộ sách thật đồ sộ, cuộc trò chuyện thì thật ngắn. xin chúc mừng Viện Sử học về việc tạo được một bộ sách lớn cho đời sống!
Nguồn: Văn nghệ, số 1 + 2, 2008, tr 15.








