Biotin và vai trò của nó đối với năng suất sinh sản của lợn nái
1. Mở đầu
Biotin (còn gọi là VTMH hay VTMB 8) là một loại vitamin (VTM) thiết yếu tan trong nước, được phát hiện vào đầu năm 1940. Nó là loại axít giàu cacbon, bền vững với nhiệt độ dưới 50 0C và không bị oxy hoá cả ở điều kiện đủ oxy. Nhưng nó bị phá huỷ bởi avidin của lòng trắng trứng sống. Đơn vị tính - mg/kg vật chất khô.
- Vai trò sinh học của biotin là thành phần quan trọng của các enzym (men điều hoà trao đổi chất...). Nó cần thiết cho dezamin hoá các axit amin và axit béo và xúc tác định vị các dioxyt cacbon. Nó tham dự trong nhiều chức năng sinh hoá như biến dưỡng các chất bột đường, chất béo và chất đạm.
Biotin cần thiết cho da, bộ máy sinh sản, hệ thần kinh, các tuyến giáp và tuyến thượng thận.
Hiệu quả sử dụng biotin ở lợn kém hơn ở gà. Người ta cho rằng biotin (B) gắn chặt vào phần không tiêu hoá được như chất xơ, khiến việc hấp thụ kém đi.
Đối với lợn nếu thiếu B sẽ gây tổn thương ở chân, viêm da và rụng lông. Trong nhiều cuộc thí nghiệm, lợn nái được bổ sung B ít bị nứt gót, nứt móng, nứt nơi tiếp giáp móng gót và nứt vách bên móng hơn so với lợn không bổ sung B.
Những lợn bị bệnh về móng như vậy dễ bị loại thải, ảnh hưởng đến năng suất đàn lợn nái.
- Cần bổ sung sớm biotin để ngừa tổn thương móng, vì nhiều nghiên cứu cho thấy bổ sung B sớm trước khi xảy ra các thương tổn, nứt móng thì đạt hiệu quả tốt hơn sau khi bị mới bổ sung. Bệnh ở móng thường do nền chuồng xấu. Do đó mặc dù biotin có thể giúp làm giảm nhẹ bệnh trên móng, nhưng bên cạnh đó người chăn nuôi cũng cần chú ý cải tiến nền chuồng để triệt tiêu các điều kiện khiến bệnh dễ phát triển hơn.
Các triệu chứng thiếu biotin như rụng lông, da khô đóng vẩy, móng bị mềm và bị bào mòn; móng chân, gót chân phần sừng bị nứt nẻ nhiều.
2. Ảnh hưởng của biotin đến năng suất sinh sản của lợn nái
Nhiều nghiên cứu được lặp lại trên nhiều lứa đẻ cho thấy: bổ sung biotin có ảnh hưởng đến tỷ lệ đậu thai, số lợn con sinh ra/lứa, số lợn con còn sống và thời gian từ khi cai sữa đến khi động dục. Một nghiên cứu của Lawis và ctv 1991 (Hoa Kỳ) cho thấy: khi bổ sung biotin cho nái 330mg/kg thức ăn thì bình quân số lợn con còn sống lúc cai sữa 21 ngày tuổi là 9,4 con so với 8,7 con/lứa ở nái đối chứng - không được bổ sung biotin.
Tóm tắt kết quả nghiên cứu của 6 nhóm tác giả về ảnh hưởng của biotin trên số lợn con sinh ra, số lợn con cai sữa/lứa và thời gian từ khi cai sữa đến động dục của lợn nái được trình bày ở bảng dưới đây:
Theo kết quả nghiên cứu của | Mức bổ sung biotin (mg/tấn TA) | Số lợn con sinh ra còn sống/lứa so với đối chứng (%)* | Số lợn con cai sữa/lứa so với đối chứng (%)* | Thời gian cai sữa đến động dục (ngày) đối chứng so với bổ sung biotin |
- Books và ctv (1997) | 227 | 109,5 | 110,0 | 15, 3 so với 6,2 |
- Baraynt và ctv (1985) | 400 | 103,0 | 106,0 | 14,5 so với 10,2 |
- Hamintor và Vaum (1984) | 500 | 98,9 | 103,8 | 7,0 so với 6,7 |
- Pany và ctv (1981) | 475 | 105,4 | - | - |
- Sirnmin và Books (1983) | 320 | 102,0 | 103,4 | 11,9 so với 9,0 |
- Tribbie và ctv (1983) | 200 | 107,8 | 109,6 | 7,8 so với 8,1 |
Bình quân | 353,7 | 104,4 | 106,5 | 11,3 so với 8,0 |
Từ kết quả ở bảng trên cho thấy: Bình quân bổ sung 358 mg biotin/tấn thức ăn đã làm tăng bình quân số lợn con sơ sinh còn sống/lứa đã tăng 4,4% so với đối chứng; số lợn con cai sữa/ lứa so với đối chứng tăng 6,5% và thời gian động dục trở lại giảm so với nái đối chứng 3,3% (11,3 - 8,0).
Rõ ràng bổ sung biotin vào thức ăn với liều lượng phù hợp để nuôi lợn nái đã làm tăng năng suất sinh sản và hiệu quả kinh tế. Thực tế đã chứng minh: bổ sung 200 - 400 µg biotin/kg thức ăn cho lợn nái cho thấy có hiệu quả kinh tế đáng kể (theo Lan. G Partridge 1997).
3. Những nguyên liệu thức ăn chứa biotin
Thức ăn men 1,0 mg/kg thức ăn
Khô đậu tương 0,3 “
Bột cỏ 3 lá 0,3 “
Sữa khô 0,12 “
Bột cá 0,12 “
Mỳ, mạch, gạo 0,1-0,2 “
Ngô, cao lương 0,5-0,8 “








