Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 22/02/2008 22:56 (GMT+7)

Biển trong cái nhìn của các vua triều Nguyễn

Đại Namnhất thống toàn đồvẽ thời Minh Mạng đã cho biết diện mạo khá hoàn chỉnh của cương vực, lãnh thổ Việt Nam . Các cửa sông, cửa biển, tấn sở được ghi chép ở miền Trung như sau: Chính Đại, Hãng Tấn, Bạng Tấn, Cờn Hải, Hội Hải, Nhượng Hải, Tấn Hải, Khẩu Hải, Linh Giang, Nhật Lệ, Tùng Dương, Việt An, Thuận An, Tư Hiền, Cảnh Dương, Chu Mại, Hải Vân, Câu Đê hải khẩu, Đại Cát, Đại Cát Mặc, Thị Nại, Xuân Đài…

Nhà nước thường xuyên tổ chức thăm dò, đo vẽ cửa biển, đường biển phục vụ cho vận tải và quân đội. Đây là nhiệm vụ thường xuyên của các cửa biển, do quan Trấn thủ, Thủ ngự chỉ huy. Tài liệu cho biết: Tháng giêng năm 1813, “ hạ lệnh cho các trấn thủ dọc biển các địa phương đo những nơi các cửa biển sở tại, sâu nông rộng hẹp thế nào, hàng năm cứ đến mùa xuân mùa đông thì dâng đồ bản lên. Bộ Công sẽ đưa đồ bản cho các thuyền vận tải của thuỷ quân để cho biết đường thuỷ khó dễ thế nào”. Tháng 2-1815, sai đội Hoàng Sa là bọn Phạm Quang Ảnh ra đảo Hoàng Sa thăm dò đường biển. Tháng 3-1816, “sai các dinh trấn,xem đo đường biển cách nhau xa gần bao nhiêu, vẽ bản đồ dâng lên và sai thuỷ quân và đội Hoàng Sa đi thuyền ra Hoàng Sa để thăm dò đường thuỷ”. Tháng 6-1817, thuyền Mã Cao đậu Đà Nẵng, đem địa đồ đảo Hoàng Sa dâng lên. Thưởng cho 20 lạng bạc. Tháng 3 - 1820, Minh Mạng giao cho quan thủ ngự còn có nhiệm vụ “cắm tiêu” tại những cửa biển để hướng dẫn thuyền qua lại”. Như thế từ đầu việc xác định cương giới đã được ý thức rất sớm và đúng đắn.

Muốn bảo vệ vùng biển, không chỉ hiểu biết đường biển, vùng biển mà còn cần một lực lượng thuỷ binh mạnh, biết chiến đấu hiệu quả trên biển. Gia Long đã rất quan tâm tới thuỷ binh, hàng năm cứ tháng Giêng lại tiến hành thao diễn phép chèo thuyền. Trong những ngày lễ này, vua mặc áo trận, đeo gươm và ban phát hiệu lệnh.

Thuỷ quân và thuyền chiến thời Nguyễn thực sự hùng mạnh trong khu vực, lại đươc huấn luyện theo binh pháp Châu Âu. Từ năm 1789, theo lời khuyên của Bá Đa Lộc, “Nguyễn Ánh ra sức tăng cường thuỷ binh, trở thành lực lượng thuỷ binh mạnh nhất chưa từng có ở vùmg biển Ấn Độ”. Tài liệu của người Anh đến Phú Xuân năm 1819, cho biết nhà Nguyễn có tới 2530 chiến thuyền các loại và “bất cứ lúc nào nhà vua cũng có thể huy động thêm thuyền buôn và thuyền chài đi lại chi chít ngoài ven biển”.

Thời Minh Mạng, thuỷ binh tiếp tục được chú trọng, dụ năm 1925, cho biết “nay thuỷ quân ở kinh, hiện đã đặt thêm nhiều, mà các địa phương ven biển đều có thuỷ quân… Tất cả phải diễn tập cho tinh thạo, phòng khi dùng đến, còn về phòng thủ thì “những chỗ xung yếu ở gần bể như cửa bể Thuận An, cửa bể Tư Dung không đâu là không lập pháo đài”.

Các vua đầu triều Nguyễn đương thời đều thân hành xem xét các cửa biển, đặc biệt là cửa Thuận An và Đà Nẵng và có những đánh giá rất cao về vị thế chiến lược của các cửa biển này. Như năm 1830, Minh Mạng xem pháo đài Trấn Hải và đánh giá: “Thật là thành bằng đồng và hào chứa nước sôi của Kinh sư vậy”.

Khi cử Nguyễn Tri Phương vào giữ chức Tuần phủ Quảng Nam, Quảng Ngãi năm 1840, Minh Mạng nói về việc phòng giữ cửa biển là để “bọn giặc dù muốn dòm nom cũng không thể thừa được sơ hở của ta. Đó là kế hoạch lớn, ràng rịt cửa tổ ngay từ lúc chưa mưa, để giữ vững bờ cõi của mình”.

Thời Thiệu Trị nhiều lần xuống Thuận An, có một lần (5 - 1847) ông xuống Thuận An xem tập thuỷ quân, hôm sau “đem ra 8 bài thơ vịnh cảnh Thuận An cho các quan xem”.

Với việc thăm dò ráo riết cũng như sự xuất hiện ngày càng nhiều các hạm đội phương Tây trên vùng biển Việt Nam , tháng 10-1839, Minh Mạng sai phái thuyền ra ngoại dương “làm việc công”. Minh Mạng cho biết mục đích của nó: “Không phải để mua hàng hoá mà là để biết rõ núi sông, phong tục, nhân vật, xem kỹ la bàn, ghi chép rõ ràng cho biết phương hướng… Ta phái binh thuyền đến nước ngoài là muốn quen đường biển và biết tình thế phong tục các nơi, không phải để cầu lợi”.

Về hải đảo, các vua Nguyễn tiếp tục có cái nhìn đúng đắn về các quần đảo của Đại Việt. Đó là sự kế thừa cái nhìn hướng biển của cha ông. Giáo sư Hoàng Xuân Hãn trong khảo cứu thử đặt vấn đề Hoàng Sa, phân tích các tài liệu của Lê Quý Đôn (phủ biên tạp lục), Phan Huy Chú (Lịch triều hiến chương loại chí); Các bản đồ thời Lê, toàn tập Thiên Nam lộ đồ của Maspéro (1741) và Giao châu chí cũng của Maspéro để lại, có bức đồ Quảng Nam xứ (đời Lê), rồi Hồng Đức bản đồ, Thuận Hoá địa đồ nhật trình, Quảng Nam địa đồ nhật trình,… Giáo sư kết luận: “Về các bản đồ trước thời Gia Long cho biết rằng “bãi” Tràng Sa hoặc Cát Vàng được coi là phần quan trọng của đất Việt”.

Với cái nhìn đúng đắn, năm 1816,Gia Long tiếp tục khẳng định chủ quyền ở Hoàng Sa. Sự kiện này cũng được người Anh quan tâm, linh mục Taberd đã viết về Hoàng Sa trên hai số báo: “Tuy rằng cái thứ quần đảo này không có gì ngoài đá tảng và những cồn lớn nó hứa hẹn nhiều bất tiện hơn lợi, vua Gia Long đã nghĩ tăng lãnh thổ bằng cách chiếm thêm cái đất buồn bã này. Năm 1816, ông đã tới, long trọng cắm cờ và chính thức giữ chủ quyền các hòn đảo này, mà hình như không có một ai tranh giành với ông”.

Trên thực tế, chỉ một thời gian ngắn quần đảo này lại có giá trị lớn: “Những đảo ấy đáng lẽ không giá trị nếu nghề chài ở đó không phồn thịnh và không bù hết mọi nguy nan cho kẻ phiêu lưu. Từ nâu đời, những thuyền phần lớn từ Hải Namtới đã hàng năm thăm các bãi nổi này và tiến hành cuộc viễn du ra xa đến tận bờ đảo Borneo… Chính phủ An Nam đã nhận thấy những món lợi có thể mang lại nếu một ngạch thuế được đặt ra bèn lập những người trưng thuyền và một trại quân nhỏ ở chô này để thu thuế mà người ngoài tới đây đều phải trả và để bảo vệ người đánh cá bản quốc”.

Chaigneau (Nguyễn Văn Thắng) ghi lại việc Gia Long khẳng định chủ quyền Hoàng Sa rằng: “Nước Cochinchine mà vua bây giờ lấy hiệu Hoàng đế gồm xứ Cochinchine thật hiệu, xứ Đông kinh, một phần xứ Cao Miên, một vài đảo có cư dân không xa bờ bể và quần đảo Paracel hợp thành bởi những tiểu đảo, ghềnh, đá không dân cư. Chỉ đến năm 1816, mà Hoàng đế bây giờ mới lấy chủ quyền trên quần đảo ấy”.

Tháng Giêng năm 1836, Minh Mạng sai “thuỷ quân suất đội Phạm Hữu Nhật đem binh thuyền qua Quảng Ngãi, thẳng tới bãi Hoàng Sa, không lệ hòn cù lao nào, hễ dài ngang, rộng cao, chu vi và bốn phía gần đó có mọc cát ngầm hay không, từ cửa biển ra đó đường thuỷ đi mấy dặm; Đá gần bờ biển huyện nào, làng nào; đến đâu khám xét rõ ràng; rồi cắm tiêu làm dấu vẽ thành đồ bản đem lên ngài ngự lãm”.

Năm 1835, nhà Nguyễn cho lập đền thờ thần Hoàng Sa ở bãi biển tỉnh Quảng Ngãi: “Bãi Hoàng Sa ở ngoài biển có một chỗ cây cối rậm tốt, trong cồn có giếng, phía tây nam có cổ miếu có bia khắc bốn chữ “Vạn lý ba bình”. Ngài sai cho lập miếu dựng bia, đàng trước xây cái bình phong:.

Hoàng Việt địa dư chí (không đề tên tác giả) cung cấp cho chúng ta biết những tư liệu quý bổ sung về việc khai thác, khẳng định chủ quyền ở Hoàng Sa. “Quần đảo Hoàng Sa ở ngoài khơi, vua các đời trước đặt ra đội quân giữ Hoàng Sa gồm 70 người, thường là lấy người xứ An Vĩnh (Quảng Ngãi - huyện Bình Sơn - phủ Tư Nghĩa) để luôn luôn canh giữ. Hàng năm cứ đến tháng 3 nhận lệnh mang theo lương thực trong 6 tháng rồi dùng 5 chiếc thuyền ra khơi, đi trong 3 ngày 3 đêm thì đến đảo, đến nơi vừa canh giữ vừa đánh cá mà ăn. Vật báu ở đó rất nhiều, nên đội quân này vừa làm nhiệm vụ canh giữ, vừa khai thác vật báu”.

Châu bản thời Minh Mạng cho biết về việc vãng thám, khẳng định chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa như sau: “Phúc tấu của bộ Công ngày 12 tháng 2 năm Minh Mạng 17 (1836), châu phê: “Mỗi thuyền vãng thám Hoàng Sa phải đem theo 10 tấm bài gỗ (cột mốc) dài 4,5 thước, rông 5 tấc khắc sâu hàng chữ “Năm Bính Thân (Minh Mạng 17), họ tên cai đội thuỷ quân phụng mệnh đi đo đạc cắm mốc ở Hoàng Sa để lưu dấu”. Đã phái thuỷ quân chánh đội trưởng Phạm Hữu Nhựt, giờ Mão hôm qua đi Ô thuyền rời Thuận An vào Quảng Ngãi quản suất việc vãng thám Hoàng Sa kỳ nầy. Bộ đã cho làm đủ số cột mốc gửi gấp vàp Quảng Ngãi. Châu cải (vua sửa lại): “Báo gấp cho Quảng Ngãi thực thi ngay, giao cho tên ấy nhận biện”. Chau phê: “Thuyền nào đi tới đâu cắm mốc tới đó để lưu dấu”.

Việc vãng thám Hoàng Sa rất quan trọng, tuy vất vả nhưng rất được quan tâm, đặc biệt là thời Minh Mạng, nhà nước thường hỗ trợ nhiều cho người tham gia. Dụ ngày 13-7-1837, cho biết: “Trước có phái thuỷ sư, giám thành, binh dân hai tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định đi Hoàng Sa đo đạc, cắm mốc, vẽ đồ, trừ bon Phan Văn Biện gồm 4 tên cam tội đã có chỉ phạm trượng. Còn binh dân đi theo lặn lội biển cả cực khổ, thưởng mỗi tên binh đinh một tháng lương, dân phu mỗi tên hai quan tiền”. Tấu của Quảng Ngãi ngày 19 tháng 7 năm Minh Mạng thứ 19 (1838): “Xin chiếu lệ miễn thúe năm nay cho hai thuyền “Bổn chinh thuyền” đã đưa binh dân đến Hoàng Sa đo đạc giáp vòng từ hạ tuần tháng 3 đến hạ tuần tháng 6, hoàn tất công vụ nay đã trở về”.

Vào thời Thiệu Trị, việc vãng thám vẫn được tiếp tục, nhưng vào giai đoạn sau, từ năm 1845, vì “công vụ bận rộn” nên việc vãng thám luôn bị châu phê “đình hoãn” mỗi khi bộ Công xin ý kiến. Phúc tấu của bộ Công ngày 26 tháng 1 Thiệu Trị thứ 7 (1847): tháng 6 Thiệu Trị 5 (1845) phụng sắc về việc đình hoãn thám Hoàng Sa. Nay phúc tấu đợi chỉ có lên vãng thám Hoàng Sa kỳ này hay không? Châu phê: “đình hoãn”.

Tấu của bộ Công ngày 28-12 Thiệu trị thứ 7 (1847): Hàng năm vào mùa xuân, theo lệ phái binh thuyền vãng thám Hoàng Sa thuộc hải cương nước nhà cho thành thục đường đi lối lại. Năm 1845, có chỉ đình hoãn kỳ vãng thám năm 1846. Vì công vụ bận rộn, năm nay cũng xin được đình hoãn. Châu phê: “đình hoãn”.

Với những trình bày trên cho thấy các vua Nguyễn rất quan tâm đến vùng biển. Trong cái nhìn của các vua Nguyễn, vị thế của biển, đảo được đánh giá rất cao, thể hiện cái nhìn đúng đắn. Đó là cơ sở để các vua Nguyễn tổ chức và tiến hành các hoạt động bảo vệ vùng biển.

Tài liệu tham khảo

  1. Cao Xuân Dục tuyển tập (2002), Tập 1, Quốc triều sử toát yếu, Bản dịch, Nxb Văn Học, Hà Nội.
  2. Hải Đường (2002), Địa danh Hoàng Sa trong châu bản triều Nguyễn, những vấn đề lịch sử của triều đại cuối cùng ở Việt Nam, Tạp chí Xưa & Nay và Trung tâm bảo tồn Di tích Cố đo Huế xuất bản, tr.190-191.
  3. Hoàng Xuân Hãn (1975), Quần đảo Hoàng Sa, Sử Địa, (29), tr.7-18.
  4. Nguyễn Thế Long, (2005), Bang giao Đại Việt-Triều Nguyễn, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội.
  5. Nội cấc triều Nguyễn (2005), Khâm định Định Nam hội diễn sự lệ. Bản dịch, in lần thứ 2, tập 5, Nxb Thuận Hoá, Huế.
  6. Nguyễn Phan Quang (2002), Việt Nam thế kỷ XIX (1802-1884), Nxb Tp HCM.
  7. Quốc sử quán triều Nguyễn (2002), Đại Nam thực lục, tập 1, bản dịch của Viện Sử học, Tái bản lần thứ nhất, Nxb Giáo Dục, Hà Nội.
  8. Quốc sử quán triều Nguyễn (2004), Đại Nam thực lục, tập 2, Bản dịch của Viện Sử học, tái bản , lần thứ nhất, Nxb Giáo Dục, Hà Nội.
  9. Quốc sử quán triều Nguyễn (1994), Minh Mệnh chỉnh yếu, Tập 2, Nxb Thuận Hoá, Huế.
  10. Quốc sử quán triều Nguyễn (1994), Minh Mệnh chính yếu, Tập 3, Nxb Thuận Hoá, Huế.

11.Tuyển tập những bài nghiên cứu về triều Nguyễn (2002), Sở Khoa học, công nghệ và Môi trường Thừa Thiên Huế và Trung tâm Bảo tàng di tích Cố đô Huế xuất bản.

Nguồn: Xưa & Nay, số 280, 3 - 2007, tr 26

Xem Thêm

Phát triển nhân lực trẻ cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược
Bộ Khoa học và Công nghệ được giao nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách phát triển nhân lực trẻ chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, hàng không vũ trụ và năng lượng nguyên tử, với thời hạn hoàn thành trong quý IV/2026.
Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

VUSTA xây dựng đề án vị trí việc làm giai đoạn 2027–2031
Là hội quần chúng được Đảng và Nhà nước giao nhiệm vụ ở Trung ương, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đang tập trung triển khai việc rà soát vị trí việc làm (VTVL), xây dựng phương án biên chế giai đoạn 2027–2031, nhằm hoàn thiện tổ chức bộ máy và nâng cao hiệu quả tập hợp đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ (KH&CN).
Tập huấn sử dụng hệ thống thông tin điều hành tác nghiệp Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Ngày 5/11, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức Hội nghị Hướng dẫn sử dụng phần mềm trong quản lý và điều hành tác nghiệp văn bản đi và đến. Hội thảo nhằm nâng cao kỹ năng sử dụng, khai thác hiệu quả các chức năng của hệ thống số hóa, góp phần tích cực vào quá trình chuyển đổi số toàn diện trong công tác quản lý, điều hành và xử lý văn bản nghiệp vụ tại Cơ quan VUSTA.
Lào Cai: 52 đề tài xuất sắc sẽ được trao giải Cuộc thi lần thứ 21
Chiều 3/11, Ông Giàng Quốc Hưng - Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Chủ tịch Liên hiệp Hội tỉnh, Trưởng Ban Tổ chức Hội thi Sáng tạo kỹ thuật (Hội thi) và Cuộc thi Sáng tạo thanh, thiếu niên, nhi đồng tỉnh (Cuộc thi), chủ trì cuộc họp thống nhất công tác chuẩn bị tổng kết, trao giải Cuộc thi lần thứ 21 và phát động Cuộc thi lần thứ 22.
Cải cách hành chính và chuyển đổi số ở cơ sở cần thực chất hơn
Năm 2026, khi mô hình chính quyền địa phương hai cấp đi vào vận hành, cải cách hành chính và chuyển đổi số đặt ra yêu cầu cao với chính quyền cơ sở. Qua khảo sát tại phường Tuy Hòa, Cư Bao, xã Sơn Hòa, Sông Hinh, Ea Na và Yang Mao, Hội đồng tư vấn Dân chủ – Pháp luật thuộc Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Đắk Lắk ghi nhận nỗ lực của địa phương và những vấn đề cần tháo gỡ để nâng cao chất lượng phục vụ.
Tôn vinh tinh hoa đạo học, tiếp nối mạch nguồn hiền tài dân tộc
Từ ngày 5 - 15/11, thành phố Hà Nội tổ chức chuỗi hoạt động kỷ niệm 950 năm thành lập Quốc Tử Giám (1076–2026), với nhiều chương trình văn hóa, nghệ thuật, triển lãm, trải nghiệm di sản và hội thảo khoa học. Đây là dịp tôn vinh những giá trị bền vững của nền Quốc học Việt Nam, khơi dậy truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo và tinh thần trọng dụng hiền tài.
Đắk Lắk: Phản biện hồ sơ Dự án nhà máy điện gió, điện mặt trời
Sáng 29/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh đã tổ chức Hội đồng góp ý, phản biện xã hội và phản biện khoa học đối với hồ sơ đề nghị chấp thuận chủ trương đầu tư Dự án Nhà máy điện gió E&M Đắk Lắk tại xã Ea Knốp và xã Cư Prao; Dự án Nhà máy điện mặt trời Jang Pông 2 tại xã Ea Wer.
Góp ý Luật luật An toàn, vệ sinh lao động: Lấy bảo vệ con người và quản trị rủi ro làm trung tâm
Ngày 30/10/2026, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp Hội Khoa học Kỹ thuật An toàn Vệ sinh Lao động Việt Nam (VOSHA) tổ chức Hội thảo "Góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật An toàn, vệ sinh lao động". Hội thảo do PGS.TS Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch VUSTA và GS.TS Lê Vân Trình, Chủ tịch VOSHA đồng chủ trì.
VUSTA công bố các quyết định điều động, bổ nhiệm cán bộ chủ chốt
Ngày 30/10/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã trang trọng tổ chức Hội nghị công bố các quyết định quan trọng về công tác cán bộ. Lãnh đạo VUSTA đã trao quyết định nghỉ hưu hưởng chế độ cho 02 cán bộ, chuyên viên, đồng thời trao các quyết định điều động, bổ nhiệm cán bộ chủ chốt nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.
Liên hiệp Hội Việt Nam hưởng ứng tháng “Vì người nghèo”
Sáng 27/10, tại Hội trường xã Quốc Oai, Khối thi đua các tổ chức thuộc lĩnh vực Khoa học - Kinh tế - Pháp luật - Giáo dục - Đối ngoại thuộc Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phối hợp với Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Hà Nội, Hội Luật gia thành phố Hà Nội và xã Quốc Oai tổ chức Hội nghị “Nghe dân nói, nói dân nghe” và thực hiện Tháng cao điểm vì người nghèo 2026.