Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 29/01/2008 00:34 (GMT+7)

Biên giới khai thác lộ thiên mỏ sắt Thạch Khê và quan điểm chia giai đoạn áp dụng bờ dừng tạm

1. Các điều kiện khai thác mỏ Thạch Khê

1.1. Trữ lượng địa chất mỏ

Bảng 1: Trữ lượng địa chất mỏ Thạch Khê
Bảng 1: Trữ lượng địa chất mỏ Thạch Khê
Mỏ Thạch Khê được phát hiện từ năm 1960, năm 1971 tiến hành tìm kiếm tỉ mỉ, năm 1975 - 1980 thăm dò sơ bộ, năm 1981 – 1984 thăm dò tỷ mỉ, trữ lượng được tính ở cấp B, C1, C2, theo “Báo cáođịa chất” năm 1985 có trữ lượng theo các cấp như ở bảng 1.

1.2. Đặc điểm địa chất công trình

Đặc điểm địa chất công trình của mỏ rất phức tạp, gồm có 3 tổ hợp đất đá: yếu, chắc, trung bình và cứng chắc.

- Tổ hợp đất đá yếu có chiều dày từ 26 – 227 m, liên kết các tầng trầm tích cát rời rạc tơi xốp kỷ Đệ tứ và trầm tích sét cát mềm yếu Neogen. Chúng bao phủ toàn bộ diện tích mỏ, nằm vây quanh thân quặng và phủ lên trên quặng và đá cứng.

- Tổ hợp đất đá cứng trung bình liên kết vùng rạn nứt phong hoá trong vùng đá vôi có cacstơ, vùng tiếp xúc đá granit với đá sừng, độ sâu phân bố từ 100 – 400 m.

- Tổ hợp đất đá cứng, là những lớp trầm tích đặt sít, những khối đá granít cứng chắc những vùng đá vôi chưa bị phong hoá.

Kết quả nghiên cứu cho thấy điều kiện địa chất công trình khai thác mỏ rất phức tạp bởi các nguyên nhân: tồn tại những lớp trầm tích kỷ Neogen và Đệ tứ dày rất yếu, có nguy cơ trượt lún và trượt trôi trong lớp sét mềm yếu, nguy cơ trượt lở, trôi mép tầng và bở mỏ trên toàn bộ bề mặt lớp cát khi có mưa lớn và gió bão; có sự phá vỡ kiến tạo của đất đá cứng trở thành bở vụn, có cacstơ, gây nguy cơ bục nước bờ mỏ và gây trượt sập lớn; có các mặt yếu phân lớp rất lớn gây nguy cơ trượt trôi mặt dốc bờ mỏ.

1.3. Đặc điểm địa chất thuỷ văn

Đặc điểm địa chất thuỷ văn của mỏ Thạch Khê cũng rất phức tạp, do nước có liên kết thuỷ lực, moong khai thác kề bờ biển Vịnh Bắc Bộ cách chu tuyến moong 0,5 km, cách sông Thạch Đồng 2 km, khí hậu vùng phức tạp, mưa bão lớn theo mùa và kéo dài. Khi lập “Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi dự án khai thác, tuyển và chế biến quặng sắt mỏ Thạch Khê Hà Tĩnh (năm 2004), các chuyên gia CHLB Nga bằng phương pháp mô hình hoá, ứng dụng chương trình Modflow của chương trình GMS đã mô hình hoá việc thấm tĩnh và thấm động trên đất đá không đồng nhất, độ sâu đáy moong mô hình hoá – 450 m, độ sâu kết thúc khai thác lộ thiên tính toán được là – 370m. Kết quả tính toán lượng nước chảy vào mỏ bằng mô hình hoá (không có các công trình tháo khô) như bảng 2.

2. Xác định biên giới mỏ lộ thiên

Việc xác định biên giới mỏ lộ thiên khi lập BCNC tiền khả thi năm 2004 đã được các chuyên gia CHLB Nga tiến hành nhờ ứng dụng chương trình NPV Scheduler của Đức và mô hình hoá khối nhỏ (15x20x20 m). Đối với mỗi địa khối, chương trình sẽ xác định tính toán theo các số liệu đầu vào như sau. Các giá trị không biến đổi gồm có: Giá bán quặng, chất lượng tinh quặng, các chi phí chế biến (tuyển khoáng, vê viên, tạo cục, chi phí chung, chi phí thương mại, các loại thuế).

Các giá trị biến đổi theo độ sâu khai thác gồm có: giá thành khai thác Cp = 35,8 + 0,07H, Rup; giá thành bóc đất đá cứng: Cp = 28 + 0,09H, Rup; giá thành bóc đất đá xốp: Cp = 29,38 + 0,11H, Rup. Trong đó: H - Độ sâu khai thác, m.

Độ sâu đáy moong được xác định trong báo cáo là dựa trên nguyên tắc tổng lợi nhuận cực đại đạt được từ việc khai thác và tuyển quặng đại đạt được từ việc khai thác và tuyển quặng manhetit giàu và quặng ôxy hoá giàu để có được sản phẩm tinh quặng cho sản xuất quặng thiêu kết hoặc là quặng vê viên. Kiểm tra sự thay đổi trữ lượng trong moong khai thác khi đưa đáy mỏ xuống sâu như bảng 3.

Sau khi xác định được biên giới khai thác lộ thiên có tổng lợi nhuận cực đại (NPV max), các nhà tư vấn đã xác lập kế hoạch đầu tư xây dựng mỏ và sản xuất một giai đoạn về không gian, thời gian, vốn xây dựng ban đầu từ điểm mở mỏ trên mặt (năm thứ nhất xây dựng cơ bản) đến kết thúc mỏ đạt độ sâu cuối cùng là - 370 m. Thời gian tồn tại của mỏ khi sản lượng 5 triệu tấn tinh quặng/năm sẽ là 58 năm, trong đó thời gian xây dựng cơ bản là 6 năm, 1 năm chuẩn bị đạt sản lượng.

3. Quan điểm về chia giai đoạn biên giới khai thác lộ thiên mỏ Thạch Khê

3.1. Quan điểm của Vụ thẩm định dự án xây dựng và công trình thuộc Uỷ ban Nhà nước CHLB Nga

Kết quả thẩm định cho rằng: “... Trong báo cáo tiền khả thi cần phải xác định phạm vi triển vọng tối đa của khai thác lộ thiên, sau đó chọn ra phạm vi moong khai thác trước tiên đối với trữ lượng quặng sắt giầu, đảm bảo khai thác bởi công suất ổn định trong vòng 20 - 25 năm. Đáy của moong giai đoạn này sẽ không thấp hơn - 190m. Độ sâu đáy moong ban đầu đến - 180 m, cho phép không giảm công suất khai thác quặng của mỏ là 5 triệu tấn/năm mà giảm được 10% khối lượng công tác cơ bản, và còn giảm được 10 - 12% khối lượng bóc đất hàng năm của thời đoạn này. Sau 15 - 20 năm kể từ khi bắt đầu khai thác moong có thể chuyển sang xây dựng mỏ giai đoạn 2...”

3.2. Nghiên cứu của Viện KH&CN Mỏ - Luyện kim

Năm 1989 một số chuyên gia của Viện Nghiên cứu Mỏ và Luyện kim (nay là Viện KH&CN Mỏ - Luyện kim) sau khi lập Dự án gọi vốn đầu tư nước ngoài mỏ Thạch Khê, đã nghiên cứu xem xét thêm về biên giới cuối cùng khai thác lộ thiên theo tiêu chuẩn tổng lợi nhuận hiện tại thực lớn nhất NPV → Max, và NPV → 0 (hoặc là xí nghiệp khai thác mỏ có hiệu quả trên vốn đầu tư là lớn nhất, hoặc là tiết kiệm tài nguyên và kinh doanh hoà vốn quy chuyển). Các chuyên gia đã cho rằng biên giới cuối cùng của mỏ có sự phụ thuộc vào sản lượng và có thể từ - 400 m đến sâu hơn - 500 m. Do còn nhiều hạn chế về sử dụng công nghệ tin học lúc đó nên kết quả nghiên cứu có thể dao động đáng kể.

Sau khi xác định chiều sâu kết thúc khai thác lộ thiên bằng (có thể sâu hơn) - 400 m, nhóm nghiên cứu đã thiết kế các bình đồ phân tầng chi tiết, xuất phát trên mặt mỏ là tầng - 10 m, chiều cao các tầng h = 15 m, và tầng cuối cùng đạt cốt - 400 m. Trên bình đồ phân tầng bố trí hào mở vỉa, hào vận tải. Tính toán khối lượng quặng (gốc giầu, và deluvi riêng rẽ), lượng đất đá trong biên giới với 2 chế độ công tác có góc ở bờ công tác: Φ = 15 và Φ = 0. Vẽ biểu đồ V = f (P), phân tích biểu đồ V = f (P); Thiết kế sự phát triển của moong khai thác lộ thiên thành 3 giai đoạn.

Giai đoạn 1 có độ sâu đáy moong đạt cốt - 160 m, hào mở vỉa bám lộ vỉa đầu phía Bắc của mỏ, xuất phát của hào ban đầu khoảng từ tuyến T79 - T84. Các thông số của hệ thống khai thác đảm bảo bố trí thiết bị và đạt sản lượng 5 triệu tấn tinh quặng/năm. Khối lượng bóc đất ban đầu Vo = 21 triệu m 3, hệ số bóc sản xuất bình quân giai đoạn 1 bằng 5,15 m 3/m 3.

Giai đoạn 2 có cốt đáy moong cuối giai đoạn đạt cốt - 250 m. Để công tác khai thác bình thường và hệ số bóc sản xuất bình ổn, cần bắt đầu cải tạo bờ moong Vo 2= 28 triệu m 3, trữ lượng quặng khai thác được trong biên giới tạm đạt 20,3 triệu m 3(thể trọng của quặng γ = 4,18 tấn/m 3), trữ lượng đất bóc thải đạt 126,9 triệu m 3, hệ số bóc sản xuất bình ổn của giai đoạn 2 = 4,88 m 3/m 3. Giai đoạn 1 tồn tại > 20 năm. Giai đoạn 3 đạt biên giới kết thúc khai thác lộ thiên tính toán - 400 m. Khối lượng bóc đất cải tạo bờ dừng tạm bằng 39 triệu m3, hệ số bóc sản xuất bình ổn giai đoạn 3 bằng 4,80 m 3/m 3.

Nhờ có áp dụng bờ dừng tạm mà khối lượng xây dựng mỏ ban đầu (bóc đất mở vỉa) giảm đáng kể như nêu trên và đẩy lùi về thời đoạn sau gần 10 năm.

Chi phí đầu tư các giếng khoan sâu hạ thấp mực nước cũng được đẩy lùi về thời đoạn sau. Chi phí sản xuất khi áp dụng bờ dừng tạm được giảm ở giai đoạn đầu do mặt mỏ hẹp làm giảm chi phí điện năng rất đáng kể dùng cho bơm nước mưa.

3.3. Nghiên cứu của Sun Global Mining Co., LTD

Năm 2005 các chuyên gia nghiên cứu về mỏ của công ty khi lập đề án đã trình bày quan điểm: Dựa vào thế phân bố quặng xác định biên giới khai thác toàn bộ khu mỏ từ độ sâu - 375 m trở lên khai thác lộ thiên, phần còn lại - 375 m trở xuống sẽ khai thác hầm lò. Việc khai thác phân thành 3 giai đoạn: giai đoạn 1 khai thác với biên giới hẹp lộ thiên, giai đoạn 2 khai thác biên giới rộng lộ thiên (biên giới kết thúc), giai đoạn 3 khai thác hầm lò.

Để đạt được mục tiêu khai thác đạt sản lượng sớm nhất, tạm thời gác lại công việc bóc đất đá ở các tầng khai thác phía Đông trong giai đoạn thứ nhất. Khi khai thác gặp quặng và đạt được công suất thiết kế mới quay lại bóc tác đất đá mở rộng tầng và đẩy nhanh tốc độ xuống sâu, tránh không để biên giới tạm bị “khai thác chết”. Từ năm thứ 6 bắt đầu mở rộng biên giới hẹp, từ năm thứ 17 mở rộng biên giới giai đoạn 2.

Ngay từ năm thứ 3, lượng quặng khai thác được đã đạt 3,8 triệu tấn; khối lượng đất đá bóc năm thứ nhất và thứ 2 xây dựng mỏ và kể cả năm thứ 3 là 60,2 triệu tấn (khoảng > 23 triệu m 3).

Những năm sản xuất bình ổn (từ năm thứ 6 trở đi), sản lượng khai thác biên giới hẹp và biên giới rộng đều đạt > 10 triệu tấn/năm.

4. Kết luận

- Do tại mỗi thời điểm nghiên cứu và tính toán có sự khác nhau ở mức độ tiến bộ về KHCN, phương tiện thiết bị và sự phát triển của công nghệ thông tin dẫn đến các con số của kết quả tính toán cụ thể có sự chênh lệch nhất định.

- Các đơn vị nghiên cứu nêu ra ở trên đều đồng nhất một quan điểm: Mỏ Thạch Khê được khai thác lộ thiên với biên giới cuối cùng dao động trong khoảng từ 375 m (theo chỉ tiêu đánh giá tổng lợi nhuận cao nhất) đến 550 m (theo quan điểm tiết kiệm tài nguyên).

- Điều chú ý là giải pháp chia giai đoạn áp dụng bờ dừng tạm được các nhà nghiên cứu đặt vấn đề và tìm các giải pháp để thiết kế cơ sở ứng dụng, mang lại lợi ích tiết kiệm chi phí và thời gian đầu tư.

- Nhà đầu tư Mỏ sắt Thạch Khê cần quan tâm tạo điều kiện và khuyến khích các nhà khoa học trong nước tiếp tục nghiên cứu sâu thêm về biên giới mỏ Thạch Khê và các giải pháp tối ưu để đạt được mục đích đầu tư hiệu quả cao nhất. Hiện nay, bằng cách phương tiện thiết bị và công nghệ thông tin hiện đại, có thể cho ra được kết quả chính xác, tin cậy, làm cơ sở chắc chắn cho chiến lược đầu tư xây dựng mỏ Thạch Khê trong tầm tay, phát triển sản xuất có hiệu quả cao nhất và bền vững.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Quyết định số 185-QĐ/TW: Bộ Chính trị giao 1.878.362 biên chế năm 2026
Thay mặt Bộ Chính trị, đồng chí Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú đã ký ban hành Quyết định số 185-QĐ/TW ngày 02/6/2026, về biên chế các ban, cơ quan, đơn vị sự nghiệp của Đảng ở Trung ương; cơ quan Mặt trận Tổ quốc, cơ quan tham mưu, giúp việc Đảng uỷ Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương, Đảng uỷ các cơ quan Đảng Trung ương và các tỉnh, thành phố năm 2026.
GS.VS.TSKH Trần Đình Long: Khoa học chỉ thật sự có giá trị khi đến được với người dân
Từ một cậu học trò nghèo đất Tổ Phú Thọ đến nhà khoa học được quốc tế ghi nhận, được vinh danh Công dân Thủ đô ưu tú năm 2025, hành trình của ông là câu chuyện đẹp về lòng say mê tri thức, tinh thần cống hiến và niềm tin bền bỉ vào tương lai của nền nông nghiệp Việt Nam.
VUSTA - cầu nối thúc đẩy hợp tác khoa học, giáo dục giữa cơ sở đào tạo của Việt Nam và Tatarstan
Chiều ngày 08/6, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) cùng Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội (USTH) đã có cuộc làm việc, trao đổi trực tuyến với Bộ Giáo dục và Khoa học Cộng hòa Tatarstan (Liên bang Nga) cùng đại diện nhiều viện nghiên cứu, trường đại học hàng đầu của Tatarstan nhằm thúc đẩy hợp tác trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và giáo dục đào tạo.
Chủ tịch Phan Xuân Dũng: VUSTA luôn ủng hộ, hỗ trợ Hội Cơ học Việt Nam tổ chức các sân chơi bổ ích cho sinh viên
Ngày 07/6/2026, tại Trường Đại học Xây dựng Hà Nội, Hội Cơ học Việt Nam đã long trọng tổ chức Lễ Tổng kết và Trao giải Olympic Cơ học toàn quốc lần thứ 36 năm 2026 khu vực phía Bắc. Đây là sự kiện thường niên có ý nghĩa quan trọng nhằm đánh giá kết quả kỳ thi, biểu dương những thành tích nổi bật của sinh viên, giảng viên và các cơ sở đào tạo trên cả nước.
Bắc Ninh: Ông Ngô Chí Vinh giữ chức Chủ tịch Liên hiệp Hội Khóa I
Trong 02 ngày 05 và 06/6, Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Bắc Ninh đã tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ nhất, nhiệm kỳ 2026-2031. Phiên thứ nhất của Đại hội diễn ra chiều ngày 05/6; phiên chính thức được tổ chức vào sáng ngày 06/6/2026 với sự tham dự của đông đảo đại biểu đại diện cho đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh.
Hải Phòng: Xác định tiêu chí chuyên gia, nhà khoa học người nước ngoài
Sáng 05/6, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp Hội) thành phố Hải Phòng đã tổ chức hội thảo tư vấn, góp ý vào dự thảo Nghị quyết quy định tiêu chí đối với người nước ngoài là chuyên gia, nhà khoa học, người có tài năng, nhà quản lý, người lao động có trình độ cao làm việc tại doanh nghiệp có trụ sở chính trong Khu thương mại tự do thành phố Hải Phòng.
Thủ tướng Lê Minh Hưng hội đàm với Thủ tướng Lào Sonexay Siphandone
​Nhận lời mời của Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng, chiều 7/6, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào Sonexay Siphandone dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Chính phủ Lào đến Thủ đô Hà Nội, bắt đầu chuyến thăm chính thức Việt Nam và tham dự Diễn đàn Tương lai ASEAN 2026 từ ngày 7-9/6.