Biến đổi khí hậu – thích ứng và giảm thiểu trong ngành nông nghiệp và nông thôn
I. Một số vấn đề chung về biến đổi khí hậu
Biến đổi khí hậu (BĐKH) là những thay đổi theo thời gian của khí hậu, trong đó bao gồm cả những hoạt động của con người gây ra. BĐKH xuất phát từ sự thay đổi cán cân năng lượng của mặt trời do thay đổi nồng độ các khí nhà kính, nồng độ bụi trong khí quyển, thảm phủ và lượng bức xạ mặt trời.
Theo dự báo của các nhà khoa học nếu như tình hình phát thải khí nhà kính không giảm thì vào năm 2030 nồng độ của khí CO2 trong khí quyển sẽ tăng gấp đôi so với thời kỳ tiền công nghiệp. Hiệu ứng nhà kính làm nhiệt độ trái đất tăng lên kéo theo hàng loạt các yếu tố khí hậu khác như: Lượng mưa, độ ẩm, bức xạ… thay đổi theo. Toàn bộ mặt đệm, cả mặt đất và đại dương đều nóng lên đặc biệt là ở các vĩ độ cao dẫn đến hiện tượng tan băng các vùng cực, gây nên hiện tượng nước biển dâng. Tần suất và cường độ hiện tượng El – Nino tăng đáng kể, gây lũ lụt và hạn hán ở các vùng nhiệt đới và á nhiệt đới. Mưa trở nên thất thường hơn, cường độ thay đổi. Đồng thời với sự nóng lên toàn cầu, nước biển dâng, sự thay đổi về lượng mưa và sự bốc hơi là sự suy thoái của tầng ozon bình lưu làm tăng bức xạ tia cực tím mặt trời trên trái đất, gây ra những ảnh hưởng lớn cho loài người, hệ thống tự nhiên, tác hại trực tiếp đến cả nền kinh tế - xã hội. Ngược lại, bản thân sự tồn tại và phát triển của các ngành kinh tế - xã hội cũng làm biến đổi môi trường xung quanh, tác động đến hệ thống khí hậu.
Trước diễn biến và ảnh hưởng lớn, mang tính toàn cầu của BĐKH, các nước trên thế giới đã có nhiều động thái tích cực. Năm 1979, Hội nghị khí hậu quốc tế lần thứ nhất đã tuyên bố kêu gọi Chính phủ các nước nhận thức về mức độ nghiêm trọng và tiến hành các hành động nhằm giảm thiểu các tác động làm BĐKH do con người gây ra. Một loại các Hội nghị liên Chính phủ thảo luận về vấn đề BĐKH đã được tổ chức từ những năm cuối thập kỷ 80, đầu thập kỷ 90 của thế kỷ 20.
Gần đây nhất, UNDP đã công bố Báo cáo Phát triển con người năm 2007/2008 với chủ đề “Cuộc chiến chống BĐKH: Đoàn kết nhân loại trong một thế giới phân cách”. Hội nghị về BĐKH tại Bali tháng 12 năm 2007 vừa qua đã thu hút được số lượng đại biểu tham gia kỷ lục, góp phần thúc đẩy nhận thức của thế giới về vấn đề BĐKH.
II. Biến đổi khí hậu và tác động tới Việt Nam
1. Thực trạng
Ở nước ta trong 10 năm gần đây, hạn hán đã hoành hành gây hậu quả nặng nề đối với sản xuất nông lâm nghiệp của nhiều địa phương, đặc biệt là miền Trung và Tây Nguyên. Trong 5 năm gần đây, các tỉnh Đồng bằng sông Hồng liên tục phải đối phó với tình trạng hạn hán gay gắt trong vụ đông xuân do mực nước sông Hồng liên tục xuống thấp dưới mức lịch sử trong vòng 10 năm qua.
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tổng thiệt hại do thiên tai, chủ yếu là do sạt lở đất, mưa to và bão lũ gây ra ở 50 tỉnh, thành phố trên cả nước trong năm 2007 ước tính lên tới trên 11.600 tỷ đồng, bằng khoảng 1% GDP. Do ảnh hưởng nặng nề của thiên tai nên tình trạng thiếu đói vẫn xảy ra ở nhiều vùng. Để khắc phục hậu quả và ổn định cuộc sống người dân vùng bão lũ, Chính phủ đã phải huy động Quỹ dự phòng cứu trợ cho các địa phương bị thiệt hại 2.500 tỷ đồng và 37,400 tấn gạo. Ngoài ra, các địa phương này còn nhận được sự hỗ trợ của các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước với tổng số tiền lên tới 880 tỷ đồng, 11.100 tấn gạo cùng một khối lượng lớn các nhu yếu phẩm khác.
2. Dự báo trong tương lai
Theo tính toán của các nhà khoa học thế giới, nhiệt độ trung bình năm tăng, khoảng 0,1 0C mỗi thập kỷ, nhiệt độ trung bình một số tháng mùa hè tăng khoảng 0,1 - 0,3 0C mỗi thập kỷ. Về mùa đông, nhiệt độ giảm đi trong các tháng đầu mùa và tăng lên trong các tháng cuối mùa. Trên phần lớn lãnh thổ lượng mưa giảm đi trong tháng 7, 8 và tăng lên trong các tháng 9, 10, 11. Mưa phùn giảm đi rõ rệt ở Bắc bộ và Bắc Trung bộ. Nước biển dâng khoảng 5cm mỗi thập niên và sẽ dâng khoảng 69cm đến năm 2070 và 100cm đến năm 2100. Tần suất và cường độ El – nino sẽ tăng lên, tác động mạnh mẽ đến chế độ thời tiết và đặc trưng khí hậu trên nhiều khu vực của Việt Nam . Số cơn bão ảnh hưởng có xu hướng tăng, bão xuất hiện muộn hơn và dịch chuyển xuống vĩ độ thấp hơn. Lũ lụt, hạn hán sẽ diễn ra mạnh mẽ và phức tạp hơn.
Từ nay đến năm 2050, hiện tượng ấm lên của khí hậu trái đất sẽ gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng như thiên tai lũ lụt tàn phá các nước, trong đó có Việt Nam .
Theo kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học thế giới, Việt Nam là một trong 5 quốc gia chịu ảnh hưởng tồi tệ nhất trước tình hình khí hậu thay đổi và mực nước biển dâng. Nếu nước biển dâng lên 1m nước mặn sẽ xâm nhập sâu vào đất liền. Trong khi nước ta có bờ biển dài 3260 km, khi đó có 22 triệu người Việt Nam tương ứng 1/5 dân số sẽ mất nhà ở, 12% diện tích canh tác bị mất, sinh kế của hàng chục triệu người dân bị đe doạ. Đồng thời, do BĐKH, nước biển dâng sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ sinh thái động thực vật ven biển.
III. Biến đổi khí hậu và tác động tới ngành nông nghiệp và PTNT
Ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn với 6 lĩnh vực chính là: Nông nghiệp, lâm nghiệp, diêm nghiệp, thuỷ sản, thuỷ lợi và phát triển nông thôn; là ngành có liên quan tới cuộc sống của 73% dân số, trong đó tập trung phần lớn người nghèo của Việt Nam. Theo đánh giá của UNDP, người nghèo là đối tượng chịu ảnh hưởng của BĐKH nhiều nhất. Nhiệm vụ bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, quản lý đê điều và phòng chống lụt bão, giảm nhẹ thiên tai là những nhiệm vụ vô cùng quan trọng đối với ổn định xã hội và phát triển bền vững.
Những hoạt động thích ứng, giảm nhẹ với BĐKH của ngành Nông nghiệp và PTNT sẽ có vai trò đặc biệt quan trọng trong Chiến lược ứng phó, giảm nhẹ với BĐKH ở Việt Nam.
1. Tác động của BĐKH đến trồng trọt và an ninh lương thực
Sản xuất nông nghiệp sẽ đối mặt với rất nhiều thách thức trong các thập kỷ tới. Suy thoái tài nguyên đất và nước là yếu tố hạn chế lớn nhất đối với việc thực hiện mục tiêu an ninh lương thực.
Nước biển dâng sẽ gây nguy cơ ngập lụt tại Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long là hai vựa lúa lớn nhất của cả nước. Viện Nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI) nhận định, sản xuất lúa gạo của Việt Nam tập trung chủ yếu vào 2 vùng đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long, do đó chỉ cần một sự gia tăng nhỏ của mực nước biển cũng sẽ gây ra những hậu quả thảm khốc. Theo một báo cáo của Ngân hàng thế giới (WB), trường hợp mực nước biển dâng lên 1m, nếu chỉ tính riêng thiệt hại do mất đất sản xuất tại các vùng ngập, ước tính tổng sản lượng lương thực của nước ta sẽ giảm khoảng 12% (xấp xỉ 5 triệu tấn). Ngoài diện tích bị ngập lụt, một diện tích rất lớn tại Đồng bằng sông Hồng sẽ bị nhiễm mặn, sản lượng lương thực của nước ta có thể bị giảm tới hàng chục phần trăm do ảnh hưởng của nước biển dâng.
Diện tích canh tác cây lương thực có thể giảm do biến đổi khí hậu làm một số vùng không còn phù hợp với sản xuất lương thực và một phần đất hiện trồng cây lương thực sẽ phải chuyển đổi thành đất ở cho những người phải di dời do ngập lụt vùng duyên hải. Đối với ngành chăn nuôi, năng suất và sản lượng một số loại vật nuôi có thể bị giảm do biên độ giao động của nhiệt độ, độ ẩm và các yếu tố ngoại cảnh khác tăng lên. Sản lượng lương thực giảm cũng làm cho nguồn cung cấp thức ăn chăn nuôi giảm đi, ảnh hưởng đến việc phát triển của ngành chăn nuôi. Nhiệt độ tăng cùng với biến động về các yếu tố khí hậu và thời tiết khác có thể làm giảm sức đề kháng của vật nuôi, đồng thời tạo môi trường thuận lợi cho các tác nhân gây bệnh phát triển bùng phát gây ra những đại dịch trên gia súc, gia cầm.
2. Tác động của BĐKH đến thuỷ lợi
Nước biển dâng sẽ gây ngập lụt và mất đất đai BĐSH và ĐBSCL. Theo ước tính của IPCC, nếu mực nước biển dâng cao 1m, ĐBSH sẽ bị ngập 5.000 km2 và ĐBSCL sẽ bị ngập 15.000 – 20.000 km2. Đây là 2 vùng tập trung dân cư và sản xuất lớn nhất của cả nước. Việc 2 vùng này bị ngập lụt sẽ gây thảm hoạ đối với nước ta. Các hệ thống đê biển, đê sông, các bờ ao không thể chống chọi được nước dâng do bão lũ như thiết kế dẫn đến nguy cơ vỡ đê trong các trận bão lớn. Ngoài ra, do mực nước dâng cao, chế độ động lực của sóng và dòng chảy ven bờ sẽ có những thay đổi gây xói lở bờ và hệ thống đê. Vấn đề quản lý bảo vệ đê, bờ bao sẽ phải đối mặt với những tình huống phức tạp. Các hệ thống tiêu nước vùng ven biển, sông sẽ gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là vào các thời gian triều cường gây ngập úng tại nhiều khu vực. Mực nước biển dâng làm cho mặn xâm nhập sâu vào nôi địa, các tầng nước dưới đất vùng ven biển cũng có nguy cơ bị nhiễm mặn gây khó khăn cho công tác lấy nước, ảnh hưởng lớn đến sản xuất, cuộc sống của người dân.
3. Tác động của BĐKH đến Lâm nghiệp
Đa dạng sinh học sẽ bị ảnh hưởng mạnh mẽ của biến đổi khí hậu. Thành phần và phân bố địa lý của các hệ sinh thái sẽ thay đổi do các cá thể phải biến đổi để thích ứng với điều kiện khí hậu mới. Những giống loài không thể thích ứng với sự thay đổi nhanh của khí hậu sẽ bị tuyệt chủng. Một số giống loài và hệ sinh thái đã có biểu hiện biến đổi để thích ứng với những thay đổi khí hậu trong thời gian vừa qua, trong đó đã quan sát được khoảng 420 loài. Kết quả quan trắc, thực nghiệm và mô hình hoá cho thấy nếu nhiệt độ tăng lên 1 0C, thành phần và sự phát triển của các loài động thực vật trong rừng sẽ biến động mạnh.
Các hệ sinh thái quý giá tại vùng ven biển (rừng ngập mặn, các rạn san hô, cỏ biển…) sẽ chịu rủi ro rất lớn do mực nước biển dâng và nhiệt độ nước đại dương tăng lên. BĐKH còn làm gia tăng nguy cơ cháy rừng tại một số khu vực do nhiệt độ tăng lên, tình trạng khô hạn kéo dài và trở nên khắc nghiệt hơn.
4. Tác động của BĐKH đến Thuỷ sản
BĐKH đang ngày càng tác động đến các hệ sinh thái biển, làm biến động chủng quần và nguồn lợi cá biển. Các ảnh hưởng tiềm tàng của BĐKH qua số liệu thống kê về thiệt hại do bão gây ra đối với cộng đồng ngư dân ven biển trong những năm gần đây. Số lượng các cơn bão ảnh hưởng đến Việt Nam không chỉ có xu hướng tăng lên mà mức độ ảnh hưởng ngày càng nhiều.
Mặt khác BĐKH cũng đang tác động đến nuôi trồng thuỷ sản. Trong đó, nhiệt độ đóng vai trò quan trọng trong quá trình sinh trưởng và phát triển của sinh vật nói chung và các loài nuôi trồng thuỷ sản nói riêng. Trong những năm gần đây, do môi trường nuôi bị suy thoái kết hợp với sự thay đổi khắc nghiệt của thời tiết đã gây ra hiện tượng tôm sú chết hàng loạt ở hầu hết các tỉnh. Các bệnh này thông thường xảy ra và lan truyền rất nhanh và rộng, khó chữa nên mức độ gây rủi ro rất lớn.
5. Tác động của BĐKH đến Phát triển nông thôn
BĐKH ảnh hưởng đến công tác xoá đói giảm nghèo. Theo nhận định của UNDP, người nghèo là đối tượng chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của BĐKH, do đó, BĐKH sẽ gây khó khăn rất lớn cho công cuộc xoá đói giảm nghèo ở nông thôn trong những thập kỷ tới. Đồng thời, gây khó khăn cho việc bố trí dân cư, xây dựng, quản lý vận hành và khai thác hệ thống hạ tầng cơ sở nông thôn.
IV. Các hoạt động thích ứng, giảm thiểu ảnh hưởng của BĐKH mà ngành nông nghiệp và PTNT đã thực hiện và định hướng trong thời gian tới
Trước nguy cơ và thách thức của BĐKH toàn cầu, để phát triển bền vững, ngành nông nghiệp đã xây dựng chương trình hành động thích ứng và giảm thiểu những thiệt hại do BĐKH gây ra.
Trong chiến lược quốc gia phòng chống và giảm nhẹ thiên tai đến năm 2020, đã chỉ rõ: “Công tác phòng chống và giảm nhẹ thiên tai lấy phòng ngừa là chính, không ngừng nghiên cứu tác động của BĐKH toàn cầu, nước biển dâng và những hiện tượng bất thường khác của khí hậu để phòng, tránh”.
Các chương trình trồng rừng và bảo vệ rừng của Bộ Nông nghiệp và PTNT, đặc biệt là Chương trình 5 triệu ha rừng là những đóng góp rất lớn cho các hoạt động giảm thiểu những thiệt hại do BĐKH tại Việt Nam .
Đồng thời, Bộ đã thực hiện nhiều đề tài về xử lý chất thải trong chăn nuôi để sản xuất biogas; về phát triển năng lượng sạch (hệ thống thuỷ lợi kết hợp thủy điện nhỏ).
Năm 2007, phối hợp với các Bộ ngành liên quan, Bộ đã xây dựng Chương trình hành động thích ứng BĐKH của ngành Nông nghiệp và PTNT.
1. Nhiệm vụ chủ yếu
a. Nâng cao nhận thức, đào tạo nguồn nhân lực, tăng cường công tác nghiên cứu dự báo ảnh hưởng của BĐKH làm cơ sở khoa học đề xuất giải pháp giảm nhẹ và thích ứng với BĐKH.
b. Rà soát, bổ sung và xây dựng cơ chế chính sách lồng ghép các vấn đề BĐKH trong quy hoạch và phát triển nông nghiệp và nông thôn.
c. Rà soát việc quy hoạch các hệ thống hạ tầng cơ sở nông nghiệp, nông thôn, hệ thống canh tác sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, hệ thống phòng chống giảm nhẹ thiên tai… theo hướng tăng cường thích ứng với biến đổi khí hậu, đặc biệt vấn đề nhiệt độ tăng và nước biển dâng.
d. Tổ chức các hoạt động kinh tế chuyển giao công nghệ để bảo vệ, quản lý, phát triển và sử dụng tổng hợp các loại tài nguyên, đất, nước, rừng, góp phần phát triển kinh tế xã hội.
2. Nhóm giải pháp chính
a. Nâng cao nhận thức về BĐKH, tác động của BĐKH đối với ngành Nông nghiệp và PTNT; huy động lực lượng chuyên gia ở các Bộ, ngành, các viện nghiên cứu, hội nghề nghiệp để xây dựng kế hoạch cụ thể, đúng tiến độ triển khai thực hiện chương trình hành động.
b. Rà soát sự phân công nhiệm vụ giữa các ban ngành thuộc Bộ, các địa phương trong việc xây dựng và thực hiện các giải pháp thích ứng với BĐKH, hoàn thiện văn bản pháp quy liên quan tới việc lồng ghép các vấn đề BĐKH trong quy hoạch phát triển nông nghiệp và nông thôn.
c. Đa dạng hoá các hình thức hợp tác với các nước trong lĩnh vực thích ứng với BĐKH để học tập, tiếp nhận chuyển giao công nghệ, tiếp nhận các mô hình thích ứng BĐKH. Tổ chức đào tạo lại, đào tạo mới, hình thành đội ngũ chuyên gia, đặc biệt các chuyên gia khoa học đầu đàn, cán bộ quản lý nhà nước có trình độ cao trong lĩnh vực này.
d. Bảo đảm nguồn lực tài chính để thực hiện chương trình hành động ngành từ ngân sách nhà nước, đồng thời huy động các nguồn vốn ODA, vốn từ các chương trình hợp tác quốc tế, các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước thuộc mọi thành phần kinh tế.
e. Bảo đảm công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát và đánh giá định kỳ mức độ hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ của chương trình hành động.








