Bí mật xung quanh chất thải hạt nhân
Nhà máy điện hạt nhân có hai loại chất thải: Loại thứ nhất là chất thải phóng xạ thấp phát sinh từ các phin lọc của lò phản ứng và các dụng cụ; loại chất thải thứ hai và cũng là chất thải đáng lo ngại nhất là nhiên liệu đã cháy. Trung bình một lò phản ứng hạt nhân 1.000 MW thải ra khoảng 30 tấn mỗi năm. Loại chất thải này có cường độ phóng xạ cao và thời gian bán rã rất lâu. Từ khi nhiên liệu được thải ra cho đến khi cần xử lý là 40-50 năm.
Bịt đầu mối để che giấu hiểm họa
Đặc khu hạt nhân Han-phóc được xây dựng ở gần thành phố Rich-len thuộc bang Oa-sinh-tơn (Mỹ) được liệt vào danh sách "địa điểm nhiễm bẩn nhất hành tinh".
Trong Đại chiến thế giới lần thứ II, Han-phóc là một địa điểm của Dự án Man-hát-tan tối mật nhằm chế tạo vũ khí hạt nhân đầu tiên trên thế giới. Và, những gì từng xảy ra tai Che-ly-a-bin-xco (Nga) cũng đã xảy ra tại Han-phóc (?).
Năm 1945, các quan chức ở Han-phóc đã cố ý cho thải một lượng phóng xạ lên đến 340.000 Ci (đơn vị đo hoạt động phóng xạ) vào môi trường. Họ coi đây là biện pháp đơn giản nhất để tống khứ được chất thải ra bên ngoài, song họ không dám thông báo cho người dân ở "khu tử thần" này biết.
Tiếp theo đó, các quan chức ở Han-phóc lại quyết định trút chất thải hạt nhân lỏng vào con sông Cô-lôm-bi-a gần nhất, khiến dòng sông này trở thành con sông bị nhiễm bẩn nhất nước Mỹ thời đó.
Việc thải khí nhiễm phóng xạ từ năm 1945 hầu như được giữ kín, mãi đến năm 1986, các nhà bảo vệ môi trường địa phương mới thắng kiện nhờ sự hỗ trợ của những tài liệu chính thức dày đến 19.000 trang xung quanh vấn đề gây tranh cãi này. Nhưng Chính phủ Mỹ luôn che giấu sự thật về những hiểm họa đối với sức khỏe và môi trường do việc sản xuất vũ khí hạt nhân gây ra nên đã hờ hững với những yêu cầu giúp đỡ và đền bù suốt một thời gian dài.
Nổ bể chứa - Rừng thông lụi tàn
Ở Nga có một tổ hợp hạt nhân ở thành phố Che-ly-a-bin-xco, tên chính thức của tổ hợp này là Mai-ăc nằm trên một diện tích khoảng 200km 2, Mai-ắc là một trong những địa điểm được canh giữ nghiêm ngặt nhất hành tinh và được xây dựng ngay sau khi kết thúc Đại chiến thế giới thứ II. Mai-ắc là cơ sở chế tạo vũ khí hạt nhân đầu tiên của Liên Xô trước đây.
Từ cuối thập niên 40 thế kỷ XX, khi tổ hợp Mai-ắc bắt đầu sản xuất vũ khí hạt nhân, đến giữa những năm 50, chất thải hạt nhân đã được đổ trực tiếp vào sông Téc-ha, khiến dòng sông này bị nhiễm bẩn phóng xạ nhất ở Che-ly-a-bin-xco. Khi tổ hợp Mai-ắc đi vào hoạt động, người ta không kịp tìm kiếm một giải pháp tốt hơn cho vấn đề chất thải nên giải pháp đơn giản nhất được chọn lựa là tống ngay chất thải hạt nhân vào sông Téc-ha.
Khu bể chứa nước thải hạt nhân ở Mai-ắc được xây dựng vào năm 1953. Ngày 29-9-1957, hệ thống làm lạnh bị trục trặc đã làm chất thải bên trong khô cạn và nóng đến 350 0C và gây nổ lớn với sức mạnh tương đương với 5 đến 10 tấn thuốc nổ TNT - đã nhấc bổng chiếc nắp bê tông nặng hàng tấn văng xa tới 25m, rồi tung một đám bụi phóng xạ khổng lồ vào không khí. Tổng lượng phóng xạ thoát ra đo được là 20 triệu Ci, gấp 10 lần lượng phóng xạ đã đổ vào sông Téc-ha trước đó. Tất cả các cây thông ở một khu vực có diện tích 20 km 2xung quanh nơi xảy ra vụ nổ đã chết trong vòng 18 tháng sau đó.
Hồ Ca-ra-chay: Nạn nhân của chất thải
Bên cạnh tổ hợp Mai-ắc có một hồ nước tự nhiên tên Ca-ra-chay. Từ năm 1951, hồ Ca-ra-chay chuyên để chứa chất thải hạt nhân, ước tính có khoảng 120 triệu Ci phóng xạ được thải vào hồ này.Riêng lượng các chất phóng xạ Stronti-90 và Cesi-137 lớn hơn khoảng 100 lần lượng hai chất này rò rỉ tại Chéc-nô-bưn. Vì Ca-ra-chay là một hồ tự nhiên không có lối thoát ra ngoài nên các quan chức ở Mai-ắc yên chí là hệ thống nước trong vùng sẽ không bị ảnh hưởng. Nhưng thật rủi ro, thực tế lại không như vậy. Theo kết quả nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Lý sinh Che-ly-a-bin-xco vào năm 1990 thì 93% lượng phóng xạ đã ngấm vào đất dưới đáy hồ và 60% lượng này đã ngấm vào nguồn nước ngầm. Điều gì phải xảy ra đã xảy ra. Mùa đông năm 1966, một đợt hạn hán quái ác đã nhanh chóng làm nước hồ Ca-ra-chay cạn sạch và đề lại một lớp bụi phóng xạ có hoạt độ rất cao ở lòng hồ cũng như ở bờ hồ. Vào mùa hè năm 1967, những trận gió mạnh đã cuốn đám bụi tử thần này lên cao và đưa chúng đi rất xa khoảng 25.000 km 2đã khiến cho 436.000 người bị nhiễm xạ.
Chất thải hạt nhân có số lượng nhỏ và có thể kiểm soát. Lò phản ứng hạt nhân không tạo ra khí CO 2và các chất gây hiệu ứng nhà kính. Đặc biệt, tính phóng xạ của chất thải hạt nhân giảm dần theo thời gian do sự phân rã tự nhiên, còn tính độc hại của các chất thải công nghiệp khác hầu như vĩnh viễn. Cụ thể, chất thải phát sinh từ các phin lọc của lò phản ứng và các dụng cụ thay ra có thời gian bán rã dài nhất là 30 năm. Như vậy, chỉ sau 10 chu kỳ (300 năm), các chất thải sẽ mất hết hoạt độ. Để xử lý, người ta chôn chúng vào các thùng bê tông, đóng vào các Công-ten-nơ nhỏ rồi chôn xuống đất. Sau một thời gian, chúng sẽ trở lại trạng thái an toàn. Một lò 1.000MW mỗi năm sẽ thải ra khoảng 800 tấn chất thải loại này, cô đặc lại còn khoảng 10m 3. Loại chất thải sinh ra từ nhiên liệu đã cháy có khoảng 30 tấn với một lò 1.000MW. Chúng có cường độ phóng xạ cao và thời gian bán rã rất lâu. Tuy nhiên, phải sau 40-50 năm, sau khi nhiên liệu được sử dụng mới cần xử lý.








