Bí kỳ nam
Kỳ nam kiến, còn được gọi là Bí kỳ nam, tên khoa học: Hydnophytum formicarum. Củ tròn hay bầu dục, vàng xám, có lỗ, hang cho kiến ở bên trong (nên có tên). Thân nhánh, thường 2 – 4 hay hơn. Lá mọc đối, phiến xoan ngược, ở cành già lá có phiến thon dài. Hoa không cuống, màu trắng, có ống dài 3 mm. Quả thận cứng màu cam, chứa 2 nhân.

Kỳ nam gai, còn gọi là cây Tổ kiến, tên khoa học: Myrmecodia tuberosa. củ to 40 x 15cm, có gai cũng có hang ngách cho kiến ở, thường chỉ có 1 nhánh thân. Lá xoan thon. Hoa không cuống, trắng rồi đỏ. Quả màu cam và đỏ lúc chín có 4 - 5 nhân cứng. Cây phụ sinh trên thân cây mục ở rừng thưa bình và trung nguyên.
Dược tính của Tổ kiến và Kỳ nam kiến cũng bình thường chứ không có gì đặc sắc. Chỉ được dùng theo kinh nghiệm dân gian (thường gọi cả 2 loài này là Bí kỳ nam): dùng củ sắt lát phơi khô sắc uống trong các bệnh về gan, vàng da, ăn uống kém, thấp khớp. Liều dùng 12 – 16g sắc uống mỗi ngày trong 1 tuần lễ. Bài thuốc có Bí kỳ nam:
- Chữa thấp khớp, đau nhức cơ, xương:Bí kỳ nam 20g, Ngũ gia bì 30g, thân, rễ cây Sung vú bò ( Ficus hirta) 30g, Xuyên tiêu ( Zanthoxylum nitidum) 20g, nước 600ml, sắc uống như trên. Thật ra nếu không có Bí kỳ nam thì các vị thuốc khác trong 2 bài thuốc trên cũng có tác dụng trị được bệnh. 






