Bi kịch người anh hùng mở cõi
Từ độ mang gươm đi mở cõi
Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long
Ai nhớ người chăng? Ôi Nguyễn Hoàng!
Mà ta con cháu mấy đời hoang...
(Năm 1946 - Huỳnh Văn Nghệ)
Lịch sử nước ta ở thế kỷ 17 - 18 vô cùng phức tạp. Ở Đàng Ngoài vua Lê chỉ còn hư vị, mọi việc lớn nhỏ đều dưới quyền chúa Trịnh. Việc triệt tiêu Nguyễn Hoàng đã nằm trong âm mưu của chúa Trịnh. Nhưng thay vì giết Nguyễn Hoàng, chúa Trịnh Kiểm đã đẩy em rể vào trong dãy “Hoành sơn nhất đái”, một vùng đất mới mẻ, hoang sơ và chưa bao giờ chúa Trịnh thấy yên tâm. Nơi ấy khí hậu khắc nghiệt, núi cao biển cả. Nơi ấy giáp với vương quốc Chămpa, một vương quốc có nền văn hóa lâu đời, liên tục quấy rối Đại Việt, một thời đã từng tiến ra Thăng Long quấy đảo, cướp của giết người, bắt đàn bà con gái người Việt về làm nô lệ và tỳ thiếp! Trong nữa là Thủy Chân Lạp nơi ẩn chứa nhiều thành phần bất minh, nhiều kẻ thù của nhà Mạc, của vua Lê chúa Trịnh và của nhà Thanh.
Nguyễn Hòang dẫu biết rất rõ tương lai u ám của mình, nhưng không còn chọn lựa nào khác. Với Nguyễn Hòang đấy là chọn lựa bắt buộc duy nhất để thoát khỏi cái chết như người anh của cả dòng họ Nguyễn.
Với vua Lê chúa Trịnh việc đẩy Nguyễn Hoàng vào Nam coi như họ đã nhổ được một cái gai, triệt tiêu được một thế lực mà vẫn giữ được mối quan hệ với vợ và gia đình bên vợ, tập trung quyền lực đối phó với nhà Mạc và thiên triều.
Trong khi đó Nguyễn Hoàng vào Nam gần như với hai bàn tay trắng. Tôi nói gần như vì ngoài gia đình, dòng họ Nguyễn Hòang bị chúa Trịnh cắt hết thế và lực. Trước tấn bi kịch này Nguyễn Hòang chỉ có hai chọn lựa. Một là sống lay lắt cho qua cơn bi cực. Hai là chủ động củng cố tiềm lực, xây dựng một vương triều mới. Chọn lựa thứ hai đầy mạo hiểm, nhưng đấy là chọn lựa đúng đắn của tính cách Nguyễn Hòang.
Vào Nam từ năm 1558, nhưng mãi đến năm 1611 Nguyễn Hòang mới mang quân vào đánh Chiêm Thành lập phủ Phú Yên. Từ chúa Nguyễn Hòang đến chúa Nguyễn Phúc Thuần, hơn 150 năm bờ cõi nước ta đã được nhân đôi. 150 năm so với hàng nghìn năm kể từ khi vua Hùng dựng nước có tên là Văn Lang qua các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê là một kỳ công đáng được hậu thế ghi ân đời đời.
Kỳ công mà các chúa Nguyễn đã làm được hơn 150 năm, trước tiên phải nói đến chính sách lấy dân làm gốc của chúa Nguyễn Hoàng. Chính sách này rõ nhất ở triều Trần, tiêu biểu là Trần Hưng Đạo, ở triều Lê, tiêu biểu là Nguyễn Trãi. Chúa Nguyễn Hòang thân cô thế cô, sống giữa lòng dân, nhận thức sâu sắc sức mạnh tự dân. Trước khi băng, chúa Nguyễn còn trối trăng lại cho con là Nguyễn Phúc Nguyên hai điều cốt lõi: Một là thương yêu nhân dân, hai là chăm lo việc rèn luyện binh lực.
Muốn lập một vương triều mới trước tiên phải có dân. Mạnh Tử đã từng nói có dân là có đất. Với nhiều chính sách cởi mở, các chúa Nguyễn đã thu hút được nhiều hiền tài, không nệ sang hèn, quý tộc hay dân nghèo... Đào Duy Từ đã bỏ Bắc vào Nam . Rồi Nguyễn Hữu Dật, Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Hữu Kính (Nguyễn Hữu Cảnh) Nguyễn Cư Trinh... Và chính những hiền tài này đã tác động tích cực trở lại vương triều các chúa Nguyễn qua những mưu lược, sách lược đúng đắn, hợp lòng dân như giảm nhẹ thuế má, ưu hoang, những gia đình có người đi lính và đặc biệt, lần đầu tiên dám nhìn ra bể cả, nhận thức phải mở cửa giao thương với thế giới, đặc biệt là thế giới phương Tây. Từ các thương gia người Bồ Đào Nha đến người Hà Lan, người Nhật đến người Tàu. Thương cảng Hội An là nơi tàu thuyền trong nước ngòai nước tấp nập nhất. Phố cổ Hội An là biểu hiện chính sách đầu tư mới, lần đầu được ứng dụng ở Đàng Trong.
Từ những chính sách đúng đắn và hợp lòng dân trên, thế và lực của chúa Nguyễn ngày càng mạnh buộc Chân Lạp phải triều cống, Xiêm La phải coi trọng. Trong tình hình ấy nhiều đại điền chủ như Dương Ngạn Địch, Mạc Cửu... không thể sống đơn lẻ được hoặc phải về Xiêm La hoặc buộc phải dâng đất cho chúa Nguyễn để cầu lấy sự an tòan. Và chúa Nguyễn đã không phụ họ, chấp nhận cho họ làm con dân của mình và phong chức rồi giao lại đất để họ tiếp tục mở mang và khai khẩn.
Nguyên nhân thành công của các chúa Nguyễn, người đầu tiên là chúa Nguyễn Hòang với chính sách lấy dân làm gốc và chính sách dụng hiền tài mà sau này Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kế thừa một cách xuất sắc theo tư duy mới, nghĩa là không áp đặt tính giai cấp trong chính quyền mới. Và vì vậy Hồ Chí Minh có được một chính phủ tòan những hiền tài, không nệ cộng sản hay quan đại thần triều Nguyễn...
Một điều nữa làm tôi hay suy nghĩ và đặt câu hỏi tại sao sự nghiệp mở mang bờ cõi của chúa Nguyễn như vậy mà một tên đường như chúa Nguyễn Hòang, chúa Nguyễn Phúc Chu lại không có! Một đường Hiền Vương vị chúa có công đầu trong việc mở đất Nam bộ ngày nay và cũng là vị chúa mạnh dạn mở khoa thi chọn nhân tài đầu tiên - 1674 - ở phương Nam đã bị các nhà đổi tên đường xóa sổ! Có ai đó đã nói chúng ta bắn vào cha ông bằng súng lục thì con cháu sẽ bắn vào chúng ta bằng đại bác! Tôi không hiểu những nhà sử học nghĩ thế nào, còn tôi thì rất sợ! Tôi nghĩ chúng ta tôn kính các vua Hùng đã có công dựng nước và dựng đền thờ ở TP Hồ Chí Minh là phải đạo. Nhưng ai dám chắc đây là những vị vua huyền thoại hay sự thực? Trong khi đó, các chúa Nguyễn mở mang cõi gấp đôi như ngày nay là một sự thực lịch sử chúng ta lại... quên một cách có ý thức. Truyền thống của dân tộc ta là uống nước nhớ nguồn. Chắc chắn không ai công bằng, khách quan mà không nhớ công ơn của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản đã lãnh đạo tòan dân làm cuộc kháng chiến giành lại nền độc lập cho dân tộc, mặc dù ai cũng biết Đảng cũng có không ít sai lầm!
Và cũng vậy, là người Việt, ai không tự hào mình có được một đất nước chỉ hơn 150 năm đã dài rộng gấp đôi, với hơn 3000 cây số bờ biển lưng dựa vào dãy Trường Sơn hùng vĩ. “Tiền rừng bạc biển” cha ông ta để lại chính là đây. Biết khai thác chúng ta chắc chắn sẽ giàu có. Dẫu biết chúa Nguyễn cũng mắc không ít sai lầm, khi anh em lục đục, khi không nghe tiền nhân mà chăm lo, thương yêu nhân dân, khi không tiếp tục mở cửa giao thương với thế giới mà lại đóng cửa cài then, theo con đường kinh tế tự túc tự cấp... Nhưng nhìn về bản chất và thành quả thì ơn của các chúa Nguyễn là đáng trân trọng, đáng được hậu thế ghi ân đời đời như các vua Hùng. Tôi nghĩ ở Việt Nam không ai như Lý Công Uẩn, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi và Nguyễn Hòang. Một đường lối mở đất vào phương Nam đúng đắn hợp lòng dân đã đơm hoa kết quả. Hôm nay mỗi lần nhắc đến vựa lúa lớn nhất nước đồng bằng sông Cửu Long đã có bao người Việt hôm nay nhớ đến vị chúa Nguyễn Hòang? Hôm nay chúng ta hướng tầm nhìn chiến lược ra biển Đông! Thật tự hào! Nhưng đã có bao nhiêu người Việt hôm nay nhớ đến công ơn của chúa Nguyễn Hòang! Một nửa dân số Việt nam đứng trên đất các chúa Nguyễn, người đứng đầu là chúa Nguyễn Hòang, một vùng đất trù phú, một vùng đất có khí hậu lý tưởng! Mọi việc không bao giờ tự Trời rơi xuống! Cũng không phải đi xin mà có! Tất cả từ cái tầm, từ cái tâm, từ bao nhiêu công sức của tiền nhân hôm qua để hôm nay chúng ta có hoa và trái..
Dựng tượng ghi công những người anh hùng mở cõi là đạo nghĩa của nền văn hóa người Việt. Đành rằng việc để mất nước vào tay thực dân Pháp là một tội lớn đối với dân tộc. Nhưng đấy là thời vua Tự Đức, thời của vương triều Nguyễn, khác với thời các chúa. Đánh giá người xưa cần phải rạch ròi.
Nguồn: Xưa & Nay, số 294, 10 - 2007, tr 24








