Bệnh viêm gan B
Sự lây nhiễm và cách chuẩn đoán, phát hiện chắc chắn nhất viêm gan B
Bệnh gây ra do một loại virus quen thuộc thường gặp, nhiễm vào cơ thể của hơn 350 triệu người trên thế giới; chứng viêm gan B mãn tính, tạo ra những “vết sẹo” có thể tiềm tàng, tiến triển tới căn bệnh xơ gan với những biến chứng đặc biệt nghiêm trọng của nó như ung thư gan, xuất huyết đường tiêu hoá nặng…
Chứng viêm gan này có đặc điểm ở tính đặc biệt “thầm lặng” của nó, bệnh có thể tiềm ẩn, tiến triển qua hàng chục năm trời mà không có sự biểu hiện bằng bất cứ một triệu chứng nào. Những dấu hiệu lâm sàng chỉ xuất hiện khi đã có những biến chứng.
Bệnh lây truyền từ mẹ sang con khi sinh nở và nuôi nấng, gần gũi những năm đầu đời. Bệnh còn lây truyền qua đường tình dục và qua đường máu: tiêm chích ma tuý dùng chung kim tiêm và truyền máu mang virus (trước những năm 1980).
Khi virus lây truyền vào cơ thể trẻ sơ sinh, chúng sẽ tồn tại trong cơ thể mãn tính trong 95% các trường hợp. Nhưng khi sự lây truyền diễn ra ở tuổi trưởng thành, sự chuyển bệnh sang thể mãn tính có hiếm hơn, chỉ 5% các trường hợp, vì hệ miễn dịch ở người lớn đã phát triển, chống đỡ với bệnh tật hiệu quả hơn.
Dược phẩm chữa trị viêm gan B
![]() |
| Cấu trúc của siêu vi viêm gan B. |
Interferon được chỉ định bằng đường tiêm dưới da 1 lần/ tuần, trong vòng 1 năm.
Còn 3 loại sau được chỉ định dùng qua đường uống, ít nhất trong vòng 2 năm.
Trong hơn 80% các trường hợp, virus bị vô hiệu hoá nhưng không bị tiêu diệt. Như vậy có nguy cơ chúng phục hồi, thức tỉnh hoạt động trở lại.
- Với sự điều trị bằng interferon, bệnh ít tái phát hơn nhưng có nhiều phản ứng phụ như: hội chứng cảm cúm, suy nhược… có nghĩa là một sự suy sụp cơ thể.
- Thuốc lamivudin rất ít độc hại nhưng thường chỉ có hiệu quả ở thời kỳ đầu dùng thuốc (trong vòng 2 năm). Sau đó lượng virus có thể gia tăng, bộc lộ một sự kháng thuốc – có thể xuất hiện ngay từ năm đầu điều trị, hoặc trong 10% các trường hợp, từ đó người ta buộc phải thay thuốc chống virus khác.
- thuốc adefovir, tốn nhiều thời gian để trở nên có hiệu quả nhưng có lợi thế là ít bị kháng thuốc.
- Còn thuốc entecavir được bán không lâu trước đây, có tác dụng mạnh hơn, hầu như không có tác dụng phụ.
Tuy nhiên, dẫu ít có sự kháng thuốc sau một năm sử dụng song người ta thấy rằng virus viêm gan B rất có thể kháng lại với các dược phẩm chống virus đã được dùng. Loại virus này có thể thích nghi với mọi sự chữa trị nhờ ở những “đột biến” khiến nó trở nên kháng, nhờn thuốc như virus bệnh AIDS chẳng hạn. Từ đó, phải sử dụng nhiều loại thuốc để thay đổi, bổ sung các cách chữa trị cho nhau.
Dược phẩm mới chống virus có tên gọi là telbivudin này chỉ sủ dụng 1 lần/ ngày. Thuốc ít độc hại, sau hai năm thử nghiệm đã tỏ ra có hiệu quả: 1367 bệnh nhân ở tuổi trưởng thành của 20 quốc gia trong đó có nước Pháp, đã được huy động vào một công trình nghiên cứu, thử nghiệm quốc tế để so sánh hiệu quả sủ dụng với các thuốc đã sử dụng từ trước, trong đó có sự so sánh với lamivudin. Telbivudin, một mặt chữa trị tốt hơn, tức khắc một số bệnh nhiễm virus nói chung và mặt khác đối với một số căn bệnh mà cơ thể đã kháng lại thuốc điều trị trước đó. Một ưu thế vượt trội của loại thuốc mới này là có thể kết hợp với các loại dược phẩm cũ đã được sử dụng để có thể tiêu diệt triệt để virus viêm gan B này.
Dược phẩm telbivudin mới được bán ở Hoa Kỳ và trong tương lai gần sẽ được bán rộng rãi tại Pháp và các thị trường dược trên thế giới.
Nếu được tiêm phòng đầy đủ, ngăn ngừa triệt để sự lây nhiễm của virus qua đường tình dục và đường máu, với các loại dược phẩm cũ, mới và các phương thức chữa trị ngày càng hiệu quả, trên thế giới sẽ loại trừ được bệnh viêm gan B và không còn ai bị tử vong vì căn bệnh này nữa.
Nguồn: Thuốc & Sức khoẻ, số 339, 1 - 9 - 2007, tr 8.









