Bệnh tim bẩm sinh
Theo thống kê của WHO và nhiều nước trên thế giới: tỷ lệ trẻ em mắc bệnh tim bẩm sinh tương đương nhau ở tất cả các nước; không phân biệt chủng tộc, màu da, trình độ phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội... Tất cả các dị tật bẩm sinh (tính chung) xảy ra ở 10% tổng số trẻ em sơ sinh, trong đó tật tim bẩm sinh chiếm khoảng 0,7 - 0,8%, bằng nhau ở hai giới nam và nữ.
Các loại bệnh tim bẩm sinh thường gặp và tần xuất mắc phảicủa từng loại như sau: Thông liên thất (28%), thông liên nhĩ (10,3%), hẹp động mạch phổi (9,9%), còn ống động mạch (9,8%), hẹp động mạch chủ (7,1%), hẹp eo động mạch chủ (5,1%), hoán vị đại động mạch (4,9%)... Các loại tim bẩm sinh hiếm gặp hơn là: hẹp động mạch phổi, sa van hai lá, teo động mạch phổi... Trước đây, trẻ em bị bệnh tim bẩm sinh không được phát hiện ngay khi mới sinh ra, nên nếu thể nặng thì các em chết ngay trong vài giờ hay vài ngày sau sinh và bị chẩn đoán lầm với các bệnh khác; còn thể nhẹ thì chỉ được phát hiện khi đã có biến chứng. Hiện nay nhờ những tiến bộ về hình ảnh học, thí dụ: siêu âm tim được sử dụng rộng rãi, nên các trẻ bị bệnh tim bẩm sinh được phát hiện sớm, chẩn đoán chính xác, theo dõi hoặc điều trị kịp thời. Nguyên nhân bệnh tim bẩm sinh Bệnh tim bẩm sinh có thể do nhiều yếu tố gây ra, cụ thể: - Người mẹ bị nhiễm siêu vi (như Rubella, quai bị, Herpès, cytomegalovirus...) trong giai đoạn 3 tháng đầu thai kỳ, khi tim và các cơ quan nội tạng đang được hình thành, thai nhi không chỉ có nguy cơ mắc bệnh tim bẩm sinh mà còn có thể bị dị tật ở các bộ phận khác. - Một số bệnh rối loạn chuyển hoá hoặc bệnh toàn thân ở người mẹ như: đái tháo đường, lupus đỏ, phénylketurie,... - Tác hại của các loại hoá chất, rượu bia, thuốc an thần, thuốc chống co giật, nội tiết tố sinh dục.... - Các tác nhân vật lý như tia phóng xạ, tia X... ảnh hưởng lên bào thai. - Những trẻ có rối loại về gen (đột biến gen, không có tính di truyền) như hội chứng Down, hội chứng Turner, hội chứng Klinefelter. - Ngoài ra, còn só những bệnh tim bẩm sinh có tính di truyền, khoảng 3% bệnh tim bẩm sinh di truyền theo định luật Mendel, nhờ xác định yếu tố di truyền, có thể tham vấn đề phòng tránh hoặc phát hiện và xử lý sớm trẻ bị bẩm sinh có tính gia tộc. Các triệu chứng gợi ý bệnh tim bẩm sinh ở trẻ em - Khó thở, đặc biệt là khi gắng sức, thí dụ sau khi bú, sau khi khóc ở trẻ sơ sinh, nhũ nhi hay sau khi chạy nhảy ở trẻ lớn. - Lồng ngực vùng tim phập phồnh nhiều. Thường mệt lả dù chỉ sau khi làm một việc nhỏ. - Đổ mồ hôi nhiều. - Tăng cân chậm mà không có nguyên nhân khác (như tiêu chảy...). - Da xanh hay tím ở môi, ngón tay, ngón chây. - Viêm đường hô hấp thường xuyên. Phân loại tim bẩm sinh ![]()
- Nhóm bệnh tim bẩm sinh không có shunt (luồng thông): da của trẻ không thấy tím, tuần hoàn phổi bình thường hoặc giảm, gồm các bệnh: hẹp động mạch phổi, hẹp động mạch chủ, hẹp eo động mạch chủ... - Nhóm bệnh tim bẩm sinh có shunt từ trái sang phải: gồm những bệnh có luồng thông máu đi từ bên trái sang bên phải với tuần hoàn phổi tăng, cũng không gây tím (trừ khi đã có biến chứng đảo shunt do tăng áp lực tuần hoàn phổi), gồm các bệnh: thông liên thất, thông liên nhĩ, còn ống động mạch... - Nhóm bậnh tim bẩm sinh có shunt từ phải sang trái: có luồng thông từ tim phải sang tim trái, thường có tím, tuần hoàn phổi có thể tăng hoặc giảm: + Tuần hoàn phổi giảm: gồm các bệnh tim có kèm theo hẹp động mạch phổi như: teo van ba lá, teo van động mạch phổi, tứ chứng Fallot... + Tuần hoàn phổi tăng: do lượng máu lên phổi nhiều hơn bình thường tĩnh mạch phổi trở về tim. Các phương pháp điều trị Cách đây khoảng 50 năm, trẻ bị bệnh tim bẩm sinh xem như “số trời đã định”. Nhưng hiện nay khoa học kỹ thuật tiến bộ, ứng dụng vào các phương pháp phẫu thuật, gây mê và chăm sóc đặc biệt đã giúp phẫu thuật thành công những khuyết tật của tim. Những năm gần đây, kỹ thuật điều trị qua ống thông đã chữa khỏi nhiều dạng bệnh tim bẩm sinh mà không cần phẫu thuật. Các phương pháp điều trị bệnh tim bẩm sinh không phải phẫu thuật gồm có: đóng bít “còn ống động mạch” bằng dụng cụ; đóng “thông liên nhĩ” bằng dụng cụ; đóng “thông liên nhĩ” bằng bóng chèn; tạo hình “van tim” bằng bóng chèn; tạo hình mạch máu bằng bóng chèn; đặt stent động mạch. Các phẫu thuật điều trị tim bẩm sinh: phẫu thuật chuyển động mạch; tạo thông nối động mạch dưới đòn với động mạch phổi theo phương pháp Blalock Taussig; Cavo Pulmonary shunt; băng động mạch phổi; đóng khuyết tật vách ngăn lớn trong giai đoạn sớm của trẻ sơ sinh.... Nguồn: Thuốc & Sức khoẻ, số 338, 15 - 8 - 2007, tr 27. |

Theo thống kê của WHO và nhiều nước trên thế giới: tỷ lệ trẻ em mắc bệnh tim bẩm sinh tương đương nhau ở tất cả các nước; không phân biệt chủng tộc, màu da, trình độ phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội... Tất cả các dị tật bẩm sinh (tính chung) xảy ra ở 10% tổng số trẻ em sơ sinh, trong đó tật tim bẩm sinh chiếm khoảng 0,7 - 0,8%, bằng nhau ở hai giới nam và nữ. 







