Bệnh của màng ngoài tim
Màng ngoài tim và chức năng
Gọi chung là màng ngoài tim nhưng thật sự màng này có 2 lá sát vào nhau: lá thành và lá tạng. Lá tạng là màng trong nằm ôm sát cơ tim và lớp mỡ phía ngoài cơ tim. Lá thành được cấu tạo bởi mô sợi, nó ngăn cách tim với các cơ quan xung quanh tim. Màng ngoài tim được gắn với các cấu trúc xung quanh bằng dây chằng: xương ức, cột sống, gân trung tâm của cơ hoành.
Màng ngoài tim có chức năng giữ cho tim có cấu trúc tốt nhất, tránh tình trạng tim giãn đột ngột, ngăn chặn sự đổ đầy quá mức của tim, ngăn cách tim với cấu trúc xung quanh cũng như giảm ma sát với các cấu trúc này khi tim co bóp… Tuy nhiên như đã nêu, có thể không cần màng ngoài tim thì chức năng tim cũng được duy trì.
Giữa 2 lá của màng ngoài tim có chứa rất ít dịch (15 – 30ml), khả năng dự trữ thêm cũng rất hạn chế. Dịch này giúp cho 2 lá thành và tạng không cọ sát vào nhau. Áp lực trong màng ngoài tim rất thấp làm cho 2 lá không rời nhau được, bình thường, áp lực này khoảng âm 1 đến 2mmHg.
Bệnh lý viêm màng ngoài tim
Bệnh lý màng ngoài tim có rất nhiều thể và chung quy lại là tình trạng viêm màng ngoài tim. Tùy theo nguyên nhân, người ta chia viêm màng ngoài tim ra các nhóm: viêm do nhiễm trùng (virus, vi khuẩn, nấm), viêm không do nhiễm trùng (ung thư, nhồi máu cơ tim, tăng ure máu, chấn thương, sau xạ trị…), viêm do miễn dịch (thấp tim, bệnh mô liên kết…). Người ta còn phân biệt viêm màng ngoài tim bán cấp và viêm màng ngoài tim mãn tính (trên 6 tháng).
Bệnh lý viêm màng ngoài tim thường gặp trên lâm sàng là viêm màng ngoài tim cấp tính, tràn dịch màng ngoài tim và viêm màng ngoài tim co thắt.
Viêm màng ngoài tim cấp
![]() |
| Hình ảnh tràn dịch màng ngoài tim trên phim X quang ngực. |
Tùy lượng dịch tràn trong khoang màng tim mà hoạt động của tim có ảnh hưởng hay không; dịch tràn nhiều và nhanh trong thời gian ngắn sẽ gây ra chèn ép tim cấp. Lúc này, bệnh nhân có bệnh cảnh: bồn chồn, lo lắng, khó thở và khó chịu ở ngực, có thể thay đổi ý thức, cảm giác bị chèn ép ở ngực… Khi khám bệnh, người ta phát hiện ra nhịp nhanh, tiếng tim mờ, gan to, tĩnh mạch cổ nổi và nặng hơn là tụt huyết áp, mạch nghịch.
Để xác định chẩn đoán, ngoài xét nghiệm máu tổng quát, bệnh nhân được đo điện tim, chụp X quang, siêu âm tim và thông tim. Trong đó, siêu âm có giá trị nhiều nhất, vì dễ làm và cho kết quả chính xác trong việc xác định lượng dịch trong khoang màng tim.
Viêm màng ngoài tim co thắt
Viêm màng ngoài tim co thắt là hậu quả của tình trạng viêm xơ hóa, vôi hóa làm dày lên, dính màng tim. Điều này hạn chế máu trở về tim và làm giảm thể tích tống máu. Màng ngoài tim lúc này cứng lên, bao lấy tim, hạn chế tim giãn ra trong thời kỳ tâm trương và làm tăng áp lực trong buồng tim. Nguyên nhân gây ra thể bệnh này là: nhiễm trùng, chấn thương, xạ trị…
Biểu hiện ở những bệnh nhân viêm màng ngoài tim co thắt là ngất xỉu, mệt và khả năng gắng sức kém. Sau đó suy tim trái sẽ có khó thở khi gắng sức và khó thở về đêm. Khám sẽ phát hiện tăng áp tĩnh mạch gây gan to, cổ trướng, phù ngoại biên, nghe tiếng tim mờ… Để xác định, ngoài việc cho làm điện tim, X quang, thông tim thì siêu âm là điều quan trọng.
Đây là một thể bệnh có tiên lượng nặng và việc điều trị cơ bản bằng ngoại khoa. Người ta tiến hành phẫu thuật cắt bỏ màng ngoài tim (hơn 90% có cải thiện triệu chứng sau mổ). Hiện tại, dù hồi sức rất tốt nhưng tỉ lệ tử vong trong và sau mổ còn khá cao (có khi lên đến 20%). Tất nhiên, song song đó là điều trị nội khoa bằng thuốc để giảm áp lực tĩnh mạch ngoại vi và tĩnh mạch phổi.
Nguồn: Thuốc & Sức khỏe, số 354, 15/4/2008, tr 27








