Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 11/10/2010 19:38 (GMT+7)

Bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái ở Việt Nam

Quá trình sản xuất và sinh sống của con người, đặc biệt là sản xuất công nghiệp đã tạo ra nhiều chất thải gây ô nhiễm bầu không khí. Người ta đã chứng kiến các trận mưa axit ngày càng tăng như ở Ấn Độ, Brasil và một số nước khác. Mưa axit đã giết chết nhiều sinh vật trong các hồ ao. Ở Việt Nam , trong phạm vi cả nước thì ô nhiễm không khí chưa đến mức nghiêm trọng, nhưng ở cả thành phố lớn và các khu công nghiệp thì đang bị ảnh hưởng đáng lo ngại, cần được nghiên cứu giải quyết.

Hoạt động của con người đã làm ô nhiễm và cạn kiệt nguồn nước. Gần ¾ vỏ trái đất được bao phủ bởi nước, nhưng chỉ có 6% là nước ngọt. Các chất thải do sản xuất công nghiệp và nông nghiệp tạo ra đã làm ô nhiễm 10% các sông ngòi trên thế giới.

Ở Việt Nam có khoảng 2.000 con sông lớn nhỏ, với tổng lượng dòng chảy hàng năm khoảng 880 tỷ m 3. Tổng trữ lượng nước dưới đất toàn lãnh thổ (chưa kể các đảo) theo dự toán đạt khoảng 1.513m 3/gjây, xấp xỉ 15% tổng lượng nước mặt sinh ra trên lãnh thổ. Cả nước có khoảng 350 nguồn nước khoáng và nước nóng. Thế nhưng do mất rừng, nông nghiệp không kèm theo các biện pháp bảo vệ môi trường và do các hoạt động khác, nguồn nước của chúng ta đã bị suy giảm, gây nên nạn thiếu nước ở nhiều vùng. Hoạt động công nghiệp của nước ta hàng năm thải ra khoảng 290.000 tấn chất độc hại vào môi trường (đánh giá năm 1998). Nước sông Hồng đã nhiễm bẩn bởi các chất hữu cơ và một số kim loại nặng như Zn, Cu, As, NH 4-, PO 43-. Chất lượng và khối lượng nước ở Hà Nội và một số thành phố lớn đang giảm mạnh. Mực nước ngầm ở một số vùng Hà Nội đã tụt xuống 10 đến 20 mét, không những làm giảm lưu lượng nước mà còn gây ra hiện tượng sụt đất. Nước tại các nhà máy nước Hạ Đình, Tương Mai, Pháp Vân có hàm lượng NH 4-và PO 43-đều vượt tiêu chuẩn cho phép 8 đến 10 lần. Tại thị xã Trà Vinh các giếng nước khoan có hàm lượng Cl từ 270mg/l đến 1.000 mg/l. Điều đáng quan tâm là phần lớn nước thải ở các bệnh viện, các xưởng sản xuất chế biến, các nhà máy nhỏ ở địa phương đều không được xử lý xả thẳng vào ao, hồ, sông, biển. Đó là nguồn ô nhiễm lớn cần được giải quyết.

Tác động của con người là một trong các nhân tố chủ yếu gây nên thoái hoá đất. Thế giới có khoảng 13.000 triệu hécta đất không bị băng giá bao phủ, trong đó có 31% là đất có rừng hay thảm cây bụi che phủ. Thế nhưng chỉ trong 40 năm qua đã mất đi 1/5 lớp đất mùn ở các vùng nông nghiệp, trung bình mỗi năm có 6 đến 7 triệu hécta đất trồng trọt bị mất khả năng sản xuất do nạn xói mòn, rửa trôi và hóa đá.

Ở Việt Nam , do phá rừng đã làm cho đất bị thoái hoá nghiêm trọng. Gần 10 triệu hécta đất trồng đồi núi trọc hiện nay là mối quan tâm lớn, là vấn đề bức xúc cần được giải quyết.

Quá trình xói mòn, rửa trôi đất ở vùng gò đồi làm mất đi lớp đất mặt hàng năm chừng 200tấn/ha. Mỗi năm nước ta sử dụng khoảng 15.000-20.000 tấn thuốc trừ sâu. Bình quân lượng thuốc sử dụng trên một hécta gieo trồng là 0,4 - 0,5 kg, cá biệt như vùng Đà Lạt lên đến 5,1 - 13,5kg/ha. Đó là nguồn hoá học ô nhiễm lớn cho đất.

Sự suy thoái môi trường sinh thái gắn liền với sự suy kiệt nguồn tài nguyên và giảm tính đa dạng sinh học. Sự tàn phá rừng và gây ô nhiễm môi trường đã làm giảm tính đa dạng sinh học là nguyên nhân nguồn gen đến các loài và các hệ sinh thái suy giảm một cách nghiêm trọng trên phạm vi toàn cầu. Để cứu lấy trái đất, trước hết phải cứu các loài, các hệ sinh thái đang bị huỷ diệt. Ở Việt Nam hiện tại có khoảng 10% các loài chim, 25% các loài thú, 21% các loài lưỡng cư, bò sát và gần 400 loài thực vật đang đương đầu với nguy cơ diệt chủng. Sự biến đổi của môi trường sinh thái đã làm cho giá trị bị suy giảm đáng kể. Kết quả nghiên cứu tại vùng đồi khô hạn của các tỉnh Thừa Thiên Huế đã chỉ ra rằng, đối với đồi trọc loại III (loại cằn cỗi nhất) thì không gặp giun đất sinh sống ở đó, nhóm vi sinh vật có vai trò quan trọng trong cải tạo đất, làm tăng độ phì của đất là Azotobacter đã không tìm thấy trong các mẫu phân tích. Việc phá rừng ngập mặn để cải tạo thành đất trồng trọt ở Nam Bộ trước đây không những đã làm mất đi nhiều loài thuỷ sinh vật quý như tôm, cua, cá và các loài phù du khác. Nhiều loài gỗ quý ở Trung Bộ như lim, sến, táu, gội, re hương, lát hoa, trầm hương, chò chỉ… cách đây không lâu rất phổ biến, nhưng giờ đây rất hiếm hoi. Các loài gỗ quý ở Tây Nguyên như trắc, cà chắc, cà te cũng ở tình trạng khan hiếm. Chỉ tính từ năm 1995 đến nay, các loài động vật có giá trị đều giảm số lượng xấp xỉ 50%.

Hiện nay trong phần lớn các tài liệu đều quy trách nhiệm dẫn đến biến đổi môi trường sống và giảm đa dạng sinh học là do hoạt động không hợp lý, thiếu khoa học của con người gây nên. Tôi cho rằng cách trình bày và kết luận như vậy là chưa toàn diện. Thực ra, có hai nhóm nguyên nhân dẫn đến suy thoái môi trường sinh thái và giảm đa dạng sinh học là nhóm nguyên nhân bắt nguồn từ bản thân tự nhiên gây ra và nhóm nguyên nhân do con người gây ra.

Nhóm nguyên nhân do những xung đột vốn có của tự nhiên như gió, bão, lũ lụt, núi lửa, động đất, quá trình chuyển động của không khí, sóng thần, sự va chạm của các thiên thể khác vào trái đất, tác động của quy luật cạnh tranh sinh tồn trong quá trình tiến hoá sinh vật.

Nhóm nguyên nhân do con người gây ra trong thời đại ngày nay mang tính rộng khắp và thường xuyên làm suy thoái môi trường và giảm đa dạng sinh học, bao gồm:

Phát triển kinh tế không tôn trọng quy luật tự nhiên, tàn phá thiên nhiên làm cho môi trường suy thoái, tài nguyên cạn kiệt, đa dạng sinh học giảm.

Do nạn nghèo đói và giảm tốc độ dân số tăng quá nhanh. Đây là hai vấn đề to lớn, mang tính đặc thù của các nước đang phát triển. "Có thực mới vực được đạo", đó là thực tế bắt buộc phải giải quyết trong chính sách phát triển và BVMT của mọi quốc gia. Dù biết phá rừng là thảm họa, là phá nơi sống của họ, săn bắt hết động vật quý hiếm là mất đi gia sản của thiên nhiên, nhưng người ta vẫn phải làm vì mưu sinh cuộc sống. Đói nghèo và tăng dân số quá nhanh là lực cản lớn nhất của sự phát triển và bảo vệ môi trường.

Do nhận thức không đầy đủ về quy luật tự nhiên và ý thức BVMT của người dân còn bị hạn chế. Hiện nay vẫn còn một số bộ phận không nhỏ nhân dân biết rõ về tai hoạ môi trường bởi những hành vi của họ gây ra, nhưng vẫn phá rừng bừa bãi, buôn bán đất hợp pháp động vật quý hiếm, thải các chất độc hại ra môi trường vì lợi ích riêng trước mắt.

Chế tài thực hiện và việc thực hiện chức năng BVMT của một số cơ quan liên quan còn nhiều bất cập.

Các văn bản pháp quy đã có, nhưng chế tài thực hiện và việc thực hiện của các cơ quan bảo vệ pháp luật liên quan đến môi trường chưa tốt, chưa nghiêm minh nên môi trường sinh thái của Việt Nam vẫn đang tiếp tục bị suy thoái, đa dạng sinh học giảm.

Để bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái ở Việt Nam, cần thực hiện một số biện pháp sau đây: Xây dựng các chế tài hữu hiệu để thực hiện tốt Luật Bảo vệ môi trường, Luật Bảo vệ rừng và các Quy định đã có của Chính phủ liên quan đến bảo vệ môi trường trong các lĩnh vực, củng cố và nâng cao năng lực, trách nhiệm của cơ quan bảo vệ môi trường, đặc biệt là đạo đức của người thi hành nhiệm vụ bảo vệ môi trường, tăng cường công tác giáo dục môi trường ở mọi cấp độ, mọi cộng đồng dân cư, làm cho họ có nhận thức đúng và tự nguyện thực hiện nghĩa vụ bảo vệ môi trường, bổ sung điều chỉnh các quy định về một số điều trong luật pháp cho phù hợp ngày càng cao với thực tế cuộc sống. Ngoài ra, Nhà nước có biện pháp hữu hiệu, giải pháp cụ thể trong chiến lược xoá đói giảm nghèo, nâng cao mức sống của mọi tầng lớp dân chúng và thực hiện đúng chính sách dân số, tăng cường hơn nữa và nâng cao chất lượng nghiên cứu, đánh giá tác động và dự báo biến động môi trường để có biện pháp phòng tránh hữu hiệu.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Thủ tướng Lê Minh Hưng lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Philippines
Nhận lời mời của Tổng thống nước Cộng hòa Philippines Ferdinand Romualdez Marcos Jr, Chủ tịch ASEAN năm 2026, ngày 7/5, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Minh Hưng dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Cebu, Philippines từ ngày 7 đến 8/5/2026.
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.