Bảo vệ nguồn nước sạch cho các huyện phía Tây Hà Nội
Bà Nguyễn Thị An ở xã Bột Xuyên, huyện Mỹ Đức cho biết, mặc dù được cán bộ ở Trung tâm Nước sinh hoạt và VSMTNT thông báo nước giếng khoan khu vực nhà bà có nhiễm thạch tín (asen), ăn uống vào là bị bệnh, nhưng do hoàn cảnh gia đình lo ăn chưa đủ, tìm đâu được 2 triệu đồng để làm bể lọc. Không chỉ có bà An, rất nhiều gia đình khác ở phía Tây Hà Nội đều có chung cách nghĩ như vậy. Nhận thức của người dân như thế, quả thật rất đáng lo ngại! Đặc tính của asen là sẵn có trong tự nhiên, không mầu, không mùi, không vị, chỉ phát hiện được khi có thiết bị chuyên dụng để thử, thời gian phát bệnh kéo dài sau khi xâm nhập vào cơ thể… Một vấn đề khác cũng đang hết sức bức xúc, đó là tình trạng ô nhiễm nước sinh hoạt ngày một nghiêm trọng do các làng nghề gây ra. Cảnh báo đã rất nhiều, nhiều giải pháp cũng đã được đưa ra nhưng thay đổi chẳng đáng bao nhiêu. Đây là sự thách thức đối với các nhà quản lý, nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi Hà Tây sáp nhập vào Hà Nội, phải giải quyết làm sao để vẫn duy trì các làng nghề trong một thủ đô yêu cầu khắt khe về môi trường.
Theo thống kê, tỉnh Hà Tây (cũ) hiện có hơn một nghìn làng nghề, trong đó chỉ có 210 làng nghề được UBND tỉnh công nhận. Sự tác động của các làng nghề này đến môi trường không khí xung quanh là rất lớn. Các làng nghề chế biến nông sản, thực phẩm như Cát Quế, Dương Liễu, Minh Khai (Hoài Đức), Tân Hoà, Cộng Hoà (Quốc Oai)… gây ô nhiễm môi trường bởi quá trình phân huỷ các loại bã thải hữu cơ, khí thải và bụi từ đốt than chế biến… Tại các làng nghề như Phùng Xá (Thạch Thất), Thanh Thuỳ (Quốc Oai), tác nhân gây ô nhiễm là khí thải và bụi trong quá trình đốt than để gia công kim khí. Các làng nghề da giầy ở Phú Yên (Phú Xuyên), làng nghề Duyên Thái (Thường Tín), tác nhân gây ô nhiễm là mùi và bụi. Các làng nghề dệt nhuộm nổi tiếng như Vạn Phúc (Hà Đông), La Phù, Phùng Xá, Dương Nội, lượng nước thải và chất thải là rất lớn, nhưng hầu hết đều chưa qua xử lý mà thải trực tiếp ra môi trường gây ô nhiễm cho các nguồn nước.
Sự ô nhiễm môi trường ngày càng lớn do làng nghề phát triển còn mang tính tự phát, thiếu quy hoạch, thiết bị và công nghệ thô sơ. Hơn nữa, lại có nhiều ngành nghề đan xen nhau trong một làng gây ảnh hưởng rất lớn đến nguồn nước sản xuất và sinh hoạt của cộng đồng dân cư. Một báo cáo mới đây của Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trường - Bộ Y tế, khi tiến hành nghiên cứu nguồn nước ngầm tại phía tây Hà Nội cho thấy, trong 11.500 mẫu nước được lấy ở 11 huyện thì phát hiện gần 40% số mẫu bị nhiễm thạch tín. Có nơi nồng độ nhiễm thạch tín hơn 0,05 mg/l, trong khi tổ chức Y tế Thế giới cho phép hàm lượng trong nước sinh hoạt tối đa là 0,01 mg/l. Đặc biệt, một số huyện Thanh Oai, Ứng Hoà, Thường Tín… mức độ ô nhiễm thường cao gấp ba, bốn lần cho phép.
Để giảm nồng độ asen và các chất gây hại có trong nguồn nước sinh hoạt, Trung tâm Nước sinh hoạt và VSMT đã phối hợp với các đoàn thể tổ chức nhiều buổi truyền thông, cấp phát tài liệu về nước sạch cho hàng nghìn người, đồng thời hướng dẫn kỹ thuật xây 1.845 bể lọc nước cho các hộ ở những địa phương có tỷ lệ nhiễm asen cao, như xã Đông Lỗ (Ứng Hòa), Liên Phương, Khánh Hà (Thường Tín), Thọ Xuân (Đan Phượng), Phương Trung (Thanh Oai)… Tuy nhiên, hiệu quả của chương trình này chưa cao, hiện vẫn còn hàng nghìn hộ gia đình ở nông thôn chưa xây bể lọc nước sinh hoạt theo đúng yêu cầu kỹ thuật. Do vậy, việc đầu tư xây dựng các nhà máy, trạm xử lý, cấp nước sạch tập trung được coi là giải pháp tối ưu để giảm thiểu các chất gây hại có trong nguồn nước sinh hoạt.
Một trong số việc làm cần được chú trọng là công tác giáo dục, truyền thông phải được tăng cường và tiến hành thường xuyên, liên tục bằng nhiều hình thức khác nhau như: truyền thông trực tiếp, truyền thông đại chúng, tiếp thị xã hội nhằm nâng cao nhận thức của người dân và các cấp chính quyền, khuyến khích người dân đầu tư, tham gia bảo vệ và sử dụng nước sạch và nhà vệ sinh.
Bên cạnh đó, để giải quyết tốt những vấn đề trên, cần có những giải pháp thiết thực trong cung cấp nước sạch ở nông thôn. Trong đó, cùng với chính sách đầu tư thích đáng, phát huy hiệu quả các công trình, phải có cơ chế quản lý chặt chẽ, gắn với nhiệm vụ bảo vệ môi trường. Quy hoạch lại các khu công nghiệp làng nghề tập trung, xa khu dân cư, không để tình trạng xả chất thải vào các hệ thống công trình thủy lợi, hệ thống cung cấp nước, hay xả trực tiếp ra hệ thống ao hồ, môi trường dân sinh. Đồng thời, tích cực tuyên truyền nâng cao ý thức trách nhiệm, nhận thức từ lãnh đạo chính quyền địa phương cũng như nhân dân để có nhận thức chung: bảo vệ môi trường bền vững là trách nhiệ của mỗi người vừa giữ gìn cho mình, đồng thời lại giữ gìn cho thế hệ tương lai. Các cấp chính quyền cũng cần có những chế tài xử phạt nghiêm khắc đối với những trường hợp gây ô nhiễm môi trường, ô nhiễm nguồn nước trên địa bàn.








