Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 19/07/2010 07:00 (GMT+7)

Bảo vệ môi trường Thủ đô Hà Nội

Nơi có nồng độ bụi tăng mạnh nhất là ở khu vực Văn Điển, Pháp Vân, Mai Động, Thanh Xuân. Chất lượng không khí ở khu vực tập trung đông dân cư trong nội thành cũng có biểu hiện suy thoái. Nồng độ SO 2và NO 2dù ở mức độ giới hạn cho phép song có biểu hiện tăng dần, nghiêm trọng nhất là nồng độ khí CO (thành phần chủ yếu trong khí thải của các phương tiện giao thông cơ giới).

Hà Nội hiện có 14 khu công nghiệp, khu chế xuất, 285 doanh nghiệp có đầu tư nước ngoài, 1,6 vạn cơ sở sản xuất công nghiệp (trong đó trên 150 xí nghiệp, nhà máy nằm trong nội thành), gần 200 cơ sở sản xuất có công nghệ lạc hậu, bố trí phân tán, gây ô nhiễm môi trường. Chỉ một số cơ sở có thiết bị lọc bụi, hầu như chưa có thiết bị xử lý khí thải độc hại. Ngoài ra, Hà Nội có hơn 1.000 công trường xây dựng lớn nhỏ đang thi công, khoảng 10.000 m 2đường bị đào bới để thi công hạ tầng kỹ thuật mỗi tháng; trên 200.000 xe ô tô, gần 2 triệu xe máy, một lượng lớn xe ngoại tỉnh (khoảng 18.000 ô tô và 160.000 xe máy/ngày).

Việc xử lý nước thải trên địa bàn Hà Nội cũng còn nhiều bất cập. Trên 90% tổng lượng nước thải sinh hoạt, công nghiệp, bệnh viện… chưa được xử lý đều xả vào nguồn nước mặt (sông, kênh, ao, hồ), gây ô nhiễm và tác động xấu đến sức khỏe người dân. Theo báo cáo của UBND thành phố, mỗi ngày Hà Nội thải ra 500.000 m3 nước thải công nghiệp, bệnh viện qua hệ thống cống và tiêu thoát xuống 4 con sông của thành phố là Tô Lịch, Lừ, Sét, Kim Ngưu, khiến 4 con sông trên bị bốc mùi hôi thối, gây ô nhiễm không khí nghiêm trọng, các chỉ tiêu ô nhiễm như BOD5, COD, NO3, dầu mỏ luôn vượt tiêu chuẩn cho phép nhiều lần. Ô nhiễm của 4 dòng sông thoát nước kể trên làm trầm trọng thêm tình trạng ô nhiễm của các dòng sông ở hạ lưu sông Nhuệ, Đáy, nước thải đã qua xử lý chỉ chiếm một tỉ lệ quá khiêm tốn (chưa đến 10%) so với lượng nước các đơn vị thải ra mỗi ngày. Theo đánh giá của Sở TN&MT thành phố Hà Nội, trong số gần 1,6 vạn cơ sở sản xuất công nghiệp mới chỉ có 79 cơ sở có hệ thống xử lý nước thải. Nhiều cơ sở có hệ thống xử lý nước thải nhưng không vận hành, hoặc chỉ vận hành đối phó khi có cơ quan chức năng kiểm tra. Đặc biệt chỉ có 642 bệnh viện lớn đầu tư hệ thống xử lý nước thải, còn lại thải trực tiếp ra hệ thống thoát nước chung của thành phố.

Ô nhiễm do chất thải rắn phát sinh trên địa bàn ngày càng lớn, tính độc hại ngày càng tăng, trong khi công tác quản lý chất thải rắn chưa đáp ứng yêu cầu. Theo số liệu của Sở TN &MT Hà Nội, tổng lượng chất thải rắn phát sinh trên địa bàn là 2.600- 2.700 tấn/ ngày. Riêng trong nội thành khoảng 720.000 tấn/năm. Tỷ lệ các thành phần nylon, cao su, kim loại, thủy tinh trong chất thải rắn đô thị ngày càng tăng trong khi tỷ lệ thu gom chưa đáp ứng yêu cầu, chất thải y tế đạt trên 90%, chất thải rắn sinh hoạt tối đa chỉ đạt 80-85%, chất thải rắn công nghiệp độc hại khoảng 20-25%, số còn lại được thải ra môi trường tự nhiên hoặc thu gom lẫn với chất thải sinh hoạt; công tác tái chế, phân loại rác thải tại nguồn, tái sử dụng còn nhiều bất cập. Việc xã hội hóa công tác xử lý chất thải mới ở dạng manh mún và tỷ lệ xử lý bằng chôn lấp vẫn là chủ yếu.

Hà Nội hiện có 83 làng nghề (chủ yếu ở ngoại thành). Hầu hết vẫn còn sử dụng các công cụ thủ công, công nghệ sản xuất lạc hậu, không đảm bảo yêu cầu kỹ thuật, an toàn vệ sinh môi trường, dẫn đến ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, ô nhiễm nước, không khí, tiếng ồn, chất thải rắn, ảnh hưởng đến sức khỏe người dân và gây mất mỹ quan đô thị. Những làng nghề truyền thống gây ô nhiễm nhiều nhất có thể kể đến như gốm Bát Tràng, bún Phú Đô, chế biến phế thải Triều Khúc…

Một số doanh nghiệp có nguồn thải chủ yếu là chất thải nguy hại (CTNH) đã không chấp hành quy định của Luật Bảo vệ môi trường (BVMT), không đăng ký với các đơn vị chức năng vận chuyển, xử lý CTNH mà trực tiếp ký hợp đồng với một số cơ sở không có chức năng này, dẫn đến tình trạng CTNH không được kiểm soát chặt chẽ, có trường hợp có đối tượng mang đổ chôn lấp bừa bãi gây ô nhiễm môi trường, tình trạng lái xe chở vật liệu, đổ trộm phế thải xây dựng trên địa bàn Hà Nội diễn ra thường xuyên, phức tạp… làm cản trở giao thông đường bộ và gây ô nhiễm môi trường. Đáng chú ý một số đối tượng đã xả trực tiếp nước hầm cầu xuống hệ thống thoát nước của thành phố, ruộng đồng vùng ven nội thành, gây ô nhiễm nguồn nước.

Công tác quy hoạch phát triển các cơ sở công nghiệp, thương mại, dịch vụ, khu chung cư ở Hà Nội thời gian qua cũng chưa đồng bộ, chưa hoặc ít tính đến yếu tố môi trường một số khu công nghiệp, cơ sở sản xuất còn bố trí chung hoặc rất gần với khu vực dân cư nên tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm rất lớn. Các dự án lớn, kể cả dự án đầu tư liên doanh với nước ngoài cũng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ các yêu cầu về BVMT.

Mới đây Hà Tây (cũ) và một số huyện xã ở Vĩnh Phúc, Hòa Bình đã hợp nhất với Hà Nội, địa giới hành chính được mở rộng, thuận lợi hơn cho công tác quy hoạch, phát triển đô thị, nhưng cũng kéo theo những áp lực về dân số, việc làm, hạ tầng cơ sở, chăm sóc y tế… và vấn đề ô nhiễm môi trường đặt ra cho lực lượng cảnh sát môi trường (CSMT) thủ đô nhiều thách thức mới trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm và vi phạm pháp luật về môi trường. So với Hà Nội, hạ tầng cơ sở về kinh tế, xây dựng, điện, nước, y tế, chất lượng quản lý, xử lý môi trường, an toàn vệ sinh thực phẩm.. trên địa bàn Hà Tây (cũ) thấp hơn rất nhiều. Phần lớn người dân sử dụng nước giếng khoan, thói quen ăn, ở không hợp vệ sinh vẫn còn tồn tại. Các cơ sở sản xuất kinh doanh hầu hết không lập và tuân thủ báo cáo đánh giá tác động môi trường, xả thải gây ô nhiễm nghiêm trọng, đặc biệt là ô nhiễm nước; tỷ lệ dân cư nông nghiệp lớn, người dân lại quen sử dụng quá mức các loại phân bón và thuốc BVTV cũng gây ô nhiễm nước và tiềm ẩn phát sinh dịch bệnh, nghiêm trọng nhất là dịch tiêu chảy cấp và sốt xuất huyết.

Trong khi đó mạng lưới cán bộ làm công tác BVMT, chăm sóc y tế lại quá mỏng, gây khó khăn thêm cho Hà Nội sau khi mở rộng.

Trước đây, công tác phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm và vi phạm pháp luật về môi trường được giao cho lực lượng cảnh sát kinh tế nhưng chưa có lực lượng chuyên trách nên kết quả còn hạn chế. Từ khi Phòng CSMT Công an thành phố Hà Nội được thành lập, đánh dấu cột mốc quan trọng trong công tác đấu tranh với tội phạm và vi phạm pháp luật về môi trường trên địa bàn Thủ đô. 6 tháng đầu năm 2008, Phòng CSMT đã điều tra, khám phá 96 vụ việc, 99 đối tượng (đạt và vượt 192% chỉ tiêu cả năm), chuyển cơ quan điều tra khởi tố 3 vụ, 11 đối tượng, xử lý hành chính 74 vụ, với số tiền 262.960.000 đồng, trong đó có một số vụ án lớn, được cấp trên và nhân dân ghi nhận như phát hiện 2 vụ xẻ thịt, nấu cao hổ ở quận Thanh Xuân và Thanh Trì. Mặc dù có nhiều cố gắng nhưng so với tình hình thực tế, số vụ vi phạm xử lý được vẫn còn hạn chế. Để giải quyết những vụ việc liên quan đến vi phạm pháp luật về BVMT trên địa bàn Hà Nội trong thời gian tới, xin đề xuất một số nội dung như sau:

Một là, UBND thành phố Hà Nội cần có chiến lược tổng thể về phát triển bền vững cho Thủ đô. Chiến lược phát triển đô thị phải hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội, ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và BVMT. Gắn trách nhiệm cụ thể cho các cấp quản lý trong việc thực hiện chiến lược BVMT Thủ đô.

Việc hoạch định chi tiết quy hoạch phát triển cho từng vùng của Thủ đô cần tiếp tục được đẩy mạnh nhằm phát triển các đô thị vệ tinh, giảm áp lực dân số lên hạ tầng cơ sở đô thị, thuận lợi hơn cho việc mở rộng sản xuất kinh doanh, thương mại và giúp giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Trong xây dựng, phát triển đô thị, các cấp lãnh đạo của thành phố cần có chỉ đạo và định hướng thống nhất, giao trách nhiệm BVMT cụ thể, yêu cầu các sở, ngành liên quan đến xây dựng phải phối hợp chặt chẽ với nhau từ xây dựng nhà, hạ tầng kỹ thuật (đô thị và nông thôn); cải tạo hệ thống cấp, thoát nước; bố trí hợp lý hệ thống công viên cây xanh; quản lý chất thải rắn đô thị và khu công nghiệp; xây dựng hạ tầng công trình giao thông thuận tiện, tránh để việc "đào đường", "quy hoạch treo" diễn ra không kiểm soát, gây mất mỹ quan đô thị, cản trở giao thông và ô nhiễm môi trường. Có cơ chế khuyến khích các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp áp dụng công nghệ hiện đại vào quan trắc và xử lý ô nhiễm môi trường (như bắt buộc các cơ sở gây ô nhiễm phải trả tiền, giảm thuế cho doanh nghiệp thực hiện nghiêm túc việc BVMT).

Hai là, trên cơ sở các quy định của pháp luật về BVMT và tình hình cụ thể của Hà Nội để đề xuất với các cơ qua có thẩm quyền ban hành hệ thống pháp quy về BVMT cho Thủ đô, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động của các cơ quan chức năng trong BVMT, phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm và xử lý vi phạm pháp luật về BVMT chuẩn mực và hiệu quả, áp dụng nghiêm ngặt các chỉ tiêu môi trường trong sản xuất và khuyến khích người dân chuyển sang thói quen tiêu dùng thân thiện hơn với môi trường.

Ba là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, kết hợp với giáo dục pháp luật về BVMT, nâng cao nhận thức của nhân dân về BVMT. Nắm rõ đặc điểm của các đối tượng cần tuyên truyền trên địa bàn để đa dạng, linh hoạt trong các hình thức tuyên truyền, chú trọng công tác tuyên truyền trong trường học, các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh và khu dân cư.

Bốn là, đầu tư thỏa đáng cho công tác BVMT và khắc phục ô nhiễm. Đẩy mạnh việc thực hiện các dự án về môi trường như cải tạo chất lượng không khí Hà Nội do Chính phủ Thụy Sĩ tài trợ, cải tạo sông Tô Lịch, Lừ, Kim Ngưu, Sét, xây dựng khu xử lý nước thải công nghiệp và rác sinh hoạt tập trung, nghiên cứu phát triển sản xuất các chế phẩm sinh - hóa phục vụ cho công tác xử lý hậu quả ô nhiễm… Việc xây dựng các công trình xử lý rác thải đòi hỏi phải có nguồn kinh phí rất lớn chi cho xây dựng, vận hành, bảo trì. Phải xã hội hóa công tác xử lý chất thải, khuyến khích các doanh nghiệp, tư nhân đầu tư vào lĩnh vực này, coi đây như một lĩnh vực kinh doanh đem lại lợi nhuận.

Năm là, nâng cao năng lực cho các lực lượng chuyên trách về BVMT, trong đó có lực lượng CSMT. Đối với lực lượng CSMT trực tiếp đấu tranh phòng ngừa tội phạm, Nhà nước cần có chế độ, chính sách hợp lý, đầu tư thỏa đáng trang thiết bị, phương tiện nghiệp vụ, bố trí đủ lực lượng, xây dựng hành lang pháp lý cần thiết để lực lượng này đủ sức mạnh làm tốt công tác tha mưu cho cấp ủy, HĐNH, UBND thành phố lập lại trật tự trong công tác BVMT, trực tiếp đấu tranh phòng chống tội phạm và vi phạm pháp luật về môi trường, góp phần xây dựng Thủ đô giầu đẹp, văn minh, hiện đại./.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Thủ tướng Lê Minh Hưng lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Philippines
Nhận lời mời của Tổng thống nước Cộng hòa Philippines Ferdinand Romualdez Marcos Jr, Chủ tịch ASEAN năm 2026, ngày 7/5, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Minh Hưng dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Cebu, Philippines từ ngày 7 đến 8/5/2026.
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.