Bảo tồn và phát triển làng nghề: Thực trạng và giải pháp
Trong thời kỳ xây dựng kinh tế ở miền Bắc trước năm 1986, một số làng nghề và các hợp tác xã làm hàng xuất khẩu sang các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu và Liên Xô (cũ) có việc làm tương đối ổn định, nhưng vẫn có nhiều làng nghề không phát triển được, nghề truyền thống dần bị mai một và chuyển dần sang sản xuất thuần nông hoặc chuyển sang nghề mới khác. Bước vào thời kỳ đổi mới, giai đoạn 1986 – 1988, một số nghề có tốc độ khôi phục và phát triển khá nhanh lúc đó như: gốm Đồng Nai, Sông Bé: chạm khảm, điêu khắc Hà Tây, Hà Bắc (Bắc Ninh, Bắc Giang), Nam Hà (Nam Định, Hà Nam): thêu ren Thái Bình, Ninh Bình, Hà Tây; thảm len ở Hải Phòng; mây tre đan ở Chương Mỹ (Hà Tây); thảm đay, thảm cói ở Thái Bình. Vào đầu những năm 90, sản phẩm làng nghề nói chung, hàng thủ công mỹ nghệ nói riêng chịu tác động trước sự sụp đổ của các nước xã hội chủ nghĩa, thị trường xuất khẩu cho các sản phẩm làng nghề không còn nữa, trong khi đó việc tiếp cận với thị trường mới lại rất hạn chế.
Năm 2000, sau khi Chính phủ ban hành Quyết định 132/2000/QĐ-TTg về một số chính sách khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn, nhiều địa phương đã chủ động tổ chức sản xuất, khôi phục lại ngành nghề truyền thống và tìm kiếm thị trường mới. Nhiều nghề truyền thống được khôi phục và phát triển, đồng thời một số nghề mới đã xuất hiện, đáp ứng nhu cầu của thị trường.
Theo tiêu chí mỗi làng nghề phải có trên 20% số hộ làm nghề, thì cả nước đã có 2017 làng nghề với 1,4 triệu hộ sản xuất làng nghề (số liệu điều tra của JICA-MARD, 2004). Ngành nghề nông thôn đã thu hút được nhiều thành phần kinh tế tham gia, trong đó thành phần tư nhân chiếm tỷ lệ 72%; kinh tế tập thể chiếm 18%; doanh nghiệp nhà nước chỉ chiếm 10%. Đã có nhiều làng nghề ở các địa phương có tộc độ tăng trưởng bình quân cao, như: Quảng Nam(25%/năm), Hà Tây (24%/năm), Bắc Ninh (23%/năm), Nam Định (21%/năm)… Hiện tại, đã có hơn 40% sản phẩm ngành nghề nông thôn được xuất khẩu đến thị trường của trên 100 nước trên thế giới. Kim ngạch xuất khẩu liên tục tăng; năm 2006, kim ngạch xuất khẩu đạt 630 triệu USD.
Tuy nhiên, phát triển làng nghề vẫn mang tính tự phát ở từng địa phương. Trên 80% các cơ sở không đủ vốn đầu tư đổi mới kỹ thuật, mở rộng quy mô sản xuất và sử dụng công nghệ, thiết bị lạc hậu. Sản xuất thiếu ổn định do thiếu nguyên liệu. Công tác đăng ký thương hiệu, thiết kế cải tiến chất lượng sản phẩm, mẫu mã bao bì, kiểu dáng công nghiệp còn rất hạn chế. Việc khai thác tiềm năng du lịch nhằm quảng bá và tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ truyền thống chưa được khai thác. Công tác đào tạo, hướng dẫn, truyền nghề chưa được quan tâm đúng mức. Môi trường bị ô nhiễm, cơ sở hạ tầng và dịch vụ phục vụ sản xuất không đồng bộ. Do vậy, vấn đề cấp thiết đặt ra hiện nay là tập trung thực hiện công tác bảo tồn và phát triển làng nghề.
Định hướng bảo tồn và phát triển làng nghề theo vùng lãnh thổ
- Vùng Đồng bằng sông Hồng
Đồng bằng sông Hồng là nơi tập trung gần 80% số lượng làng nghề trong cả nước với nhiều làng nghề truyền thống. Khu vực này tập trung phát triển các mặt hàng thủ công mỹ nghệ đòi hỏi chuyên môn cao như sơn mài, gỗ, gốm sứ, thêu ren, kim hoàn… nhằm sử dụng lực lượng thợ có tay nghề. Do vậy, hướng bảo tồn, phát triển làng nghề trong thời gian tới là tập trung vào các nghề truyền thống có thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước. Hỗ trợ phát triển sản phẩm mới sử dụng tay nghề thủ công truyền thống và nguyên vật liệu địa phương.
- Vùng núi Đông Bắc và Tây Bắc Bộ
Đây là khu vực có ít làng nghề, các sản phẩm sản xuất ra phần lớn phục vụ nhu cầu tại chỗ, ít được bán ra thị trường và có giá trị kinh tế thấp. Do vậy, cần xây dựng kế hoạch khôi phục, bảo tồn các nghề truyền thống tại những vùng có điều kiện tiếp cận thị trường, có chính sách tạo điều kiện cho đồng bào dân tộc ít người định cư ở những khu vực này được vay vốn, đào tạo nghề và hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm.
- Vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ
Vùng này có vị trí quan trọng, nối liền hai miền Bắc – Nam, tiếp giáp và là cửa ngõ ra biển của nước bạn Lào, thuận lợi cho giao lưu hàng hoá với các tỉnh trong nước và khu vực. Tuy vậy, đây là khu vực gặp nhiều khó khăn, điều kiện khí hậu khắc nghiệt. Hướng bảo tồn và phát triển làng nghề trong thời gian tới là xác định các làng nghề trong khu vực bảo tồn văn hoá ở Huế, Hội An và Bình Định cũng như một số tỉnh có nhiều tiềm năng để phát triển làng nghề gắn với du lịch.
- Vùng Tây Nguyên
Vùng này có trên 40 dân tộc khác nhau sinh sống, có các nghề truyền thống, làng nghề truyền thống của đồng bào các dân tộc. Để nhanh chóng phát triển kinh tế, cần đặc biệt khuyến khích đầu tư khôi phục và phát triển ngành nghề truyền thống của các dân tộc ở Tây Nguyên. Thế mạnh của vùng Tây Nguyên có thể sản xuất được các loại đồ thủ công mỹ nghệ mang đậm nét văn hoá địa phương như: đan lát, dệt thổ cẩm và các loại đồ lưu niệm.
- Vùng Đông Nam Bộ
Nhờ có những ưu thế về mặt địa lý, điều kiện tự nhiên, lịch sử phát triển, vùng này được đánh giá là vùng có tài nguyên đa dạng và phong phú, có điều kiện để phát triển một nền kinh tế tổng hợp theo hướng tập trung, có sự liên kết chặt chẽ giữa công nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp. Đây là khu vực có nhiều doanh nghiệp sản xuất thủ công tập trung tại Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, Tây Ninh. Do vậy, phát triển các làng nghề sản phẩm thủ công mỹ nghệ có khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế.
- Vùng Đồng bằng sông Cửu Long
Là vùng trọng điểm sản xuất lương thực, thực phẩm của cả nước, làng nghề ít phát triển, chỉ tập trung vào một số nghề thủ công mỹ nghệ, chế biến nông, thuỷ, hải sản trên cơ sở tận dụng nguyên vật liệu địa phương như các sản phẩm từ cây dừa, cây bèo lục bình… Cần tăng cường đầu tư, hỗ trợ phát triển ngành nghề và dịch vụ ở nông thôn, chú trọng các làng nghề có thị trường tiêu thụ trong nước như cói, dừa, gốm sứ, lục bình… và phát triển các dịch vụ phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, chế biến nông lâm thuỷ sản.
Một số giải pháp
Một là, về quy hoạch, bảo tồn và phát triển làng nghề được xây dựng, triển khai thực hiện phải phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội của địa phương và cả nước,trong đó chú trọng bảo tồn và phát triển làng nghề, vùng nghề phải gắn với quy hoạch vùng nguyên liệu và đặc biệt là bảo vệ môi trường. Đối với quy hoạch vùng nguyên liệu cho các nghề thủ công, bao gồm vùng nguyên liệu quốc gia và vùng nguyên liệu địa phương, triển khai xây dựng quy hoạch và có kế hoạch đầu tư, gây dựng các loại giống cây nguyên liệu có chất lượng cao cung cấp cho các làng nghề, trong đó đặc biệt chú trọng áp dụng các biện pháp kỹ thuật tiên tiến để gieo trồng, chăm sóc, khai thác cá loại nguyên liệu cho các nghề thủ công.
Hai là, về chính sách đất đai, thực hiện các chính sách ưu đãi trong thuê đất, chuyển nhượng, thế chấp, quyền về sử dụng đất; giá thuê đất ở mức thấp nhất và miễn tiền thuê đất choa các cơ sở ngành nghề nông thôn, đặc biệt là nghề thủ công truyền thống của đồng bào dân tộc và các nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống cần phải bảo tồn.
Ba là, về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, khuyến khích và hỗ trợ chi phí lớp học cho các cơ sở ngành nghề nông thôn, nghệ nhân trực tiếp mở lớp truyền nghề; các lớp đào tạo thợ lành nghề, giáo viên dạy nghề và người thiết kế mẫu trong các làng nghề và hoạt động tư vấn phát triển sản phẩm.
Bốn là, về đầu tư, tín dụng và thuế, tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng, đào tạo, xúc tiến thương mại, khoa học công nghệ, xử lý ô nhiễm môi trường…
Năm là, về xúc tiến thương mại, xây dựng chương trình xúc tiến thương mại hàng thủ công mỹ nghệ; đẩy mạnh phát triển thương mại điện tử, hỗ trợ các cơ sở ngành nghề nông thôn, doanh nghiệp, làng nghề xây dựng hệ thống thông tin nhằm giới thiệu, quảng bá sản phẩm làng nghề.
Bên cạnh các giải pháp trên, cần phát huy vai trò và sự tham gia của các đoàn thể, tổ chức phi chính phủ, tổ chức quốc tế vào lĩnh vực bảo tồn và phát triển các làng nghề truyền thống.








