Bảo tồn, phát huy giá trị văn nghệ dân gian ở Hà Nam
Theo những hiện vật còn lưu giữ lại, qua những dấu tích ở hang Đồng Nội, hang Ốc (huyện Kim Bảng), các nhà khảo cổ học đã phát hiện ra điều này, cùng với loại hình văn hóa Bắc Sơn thuộc thời đại đồ đá mới. Cho đến nay, Hà Nam là một trong những nơi phát hiện được nhiều trống đồng nhất, cả thảy hơn 20 chiếc. Đặc biệt trống đồng Ngọc Lũ trở thành biểu tượng của văn hiến Việt Nam . Năm 1995, nhân kỷ niệm 50 năm thành lập Liên hiệp quốc, Chủ tịch nước Lê Đức Anh đã trao tặng phiên bản chiếc trống đồng này cho ngài Tổng thư ký Butơrốt Gali. Cũng trong các ngôi mộ ở vùng núi Đọi, Trì Xá, Yên Từ (huyện Duy Tiên), Thanh Sơn, Thi Sơn, Khả Phong, Châu Sơn, Ba Sao (huyện Kim Ba Bảng), các nhà khoa học đã tìm thấy công cụ sản xuất như rìu đồng, lưỡi cày chìa vôi; binh khí như giáo đồng, dao găm đồng. Đặc biệt, các dụng cụ sinh hoạt như chậu đồng, bát gỗ, khuyên tai bằng đá. Những hiện vật cổ quý giá đó đã chứng minh rằng có một nền văn minh sông Hồng, văn minh lúa nước của người Hà Nam xưa đã phát triển khá cao. Trải suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước từ xưa đến nay, truyền thống lịch sử, văn hiến của mảnh đất này mỗi ngày lại được bồi đắp, trở thành niềm tự hào của nhân dân Hà Nam nói riêng, nhân dân cả nước nói chung.
Kho tàng văn hóa Hà Nam hết sức phong phú và đa dạng. Ở đây, chúng tôi chỉ xin đề cập đến vấn đề bảo tồn, phát huy giá trị văn nghệ dân gian ở Hà Nam .
1. Vài nét khái quát về Hà Nam
Địa hình của tỉnh Hà Nam chia thành hai khu vực rõ rệt, khu vực miền núi và khu vực đồng bằng. Riêng vùng đồng bằng có đến 2/3 diện tích là đồng chiêm trũng, có nơi chỉ cao 0,3m so với mực nước biển. Điều kiện tự nhiên ấy khiến cho cuộc sống của người Hà Nam xưa trăm bề lam lũ và cơ cực. Những câu phương ngôn dưới đây có lẽ chỉ Hà Nam mới có:
- Sống ngâm da, chết ngâm xương.
(Khi sống, suốt ngày dầm nước, đến khi chết nắm xương cũng bốn mùa ngâm dưới nước).
- Bình Lục trôi gio, thiên hạ reo hò, Bình Lục hò reo, thiên hạ treo cầy.
(Đất Bình Lục xưa là cái rốn của đồng bằng Bắc Bộ, chưa mưa đã úng lụt. Bởi vậy hàng năm Bình Lục có lụt lội trôi gio thì thiên hạ mới đủ nước cày cấy. Năm nào Bình Lục nước nôi vừa phải, dễ cày bừa cấy hái thì các nơi khác lại hạn hán đến bỏ cả cày bừa).
Nhưng vượt lên trên cái khốn khó ấy, người nông dân Hà Nam , từ trong sâu thẳm tình yêu nhìn quê hương mình say đắm vô cùng. Trong hàng trăm câu tục ngữ, ca dao, trong các làn điệu dân ca mượt mà, trữ tình của vùng sông nước này, ta gặp mỗi xóm làng một phong cảnh thiên nhiên kỳ thú, với những đặc sản thôn dã, với những nghề nghiệp đòi hỏi phải có người thợ tài hoa lắm, với những phong tục tập quán không lẫn được vào đâu.
- Chuối Đại Hoàng, lạng vàng tiến vua.
(Làng Đại Hoàng nay thuộc xã Hòa Hậu, huyện Lý Nhân có giống chuối để tiến vua ngon nổi tiếng, quen gọi là chuối ngự).
- Đậu Đầm, bún Tái, gái Ngô Khê
(Làng Đầm hiện nay thuộc xã Liêm Tuyền, huyện Thanh Liêm; làng Tái nay thuộc xã Đinh Xá, Ngô Khê nay thuộc huyện Bình Lục. Đậu phụ làng Đầm, bún làng Tái ngon nổi tiếng, con gái Ngô Khê sành sỏi, đảm đang).
- Chợ Nghè có món bún riêu,
Bún cua, bún ốc, bún tiêu, bún gà.
Bún đường bừa cái sợi ngà ngà
Bát riêu đầy gạch đỏ xoà lên trên.
Ăn cho năm bát liền liên
Vừa ăn vừa nhẩm: thiếu tiền rồi đây !
Ăn rồi nhìn lên núi Mây
Hèn chi núi ấy hây hây má hồng.
Ăn rồi nhìn lên núi Chồng
Hèn chi núi ấy như mâm bồng sum suê
Ăn rồi nhìn lên núi Mê
Hèn chi núi ấy tóc thề thướt tha.
Ăn rồi nhìn núi con Gà
Hèn chi núi ấy mượt mà cánh lông !
(Tên các ngọn núi trong bài cao dao này đều nằm trong dãy núi đất thuộc huyện Thanh Liêm).
- Quyển Sơn vui thú nhất đời
Dốc lòng trên dặm, dưới bơi ta về
Đôi bên núi tựa sông kề
Ngược xuôi tiện nẻo, lắm nghề làm ăn.
(Làng Quyển Sơn thuộc xã Thi Sơn, huyện Kim Bảng nằm trên bờ sông Đáy, tựa lưng vào dãy núi lớn. Cảnh trí đẹp. ở đây có tục hát dậm vào dịp đầu xuân).
Giữa cái vất vả thường ngày, con người của vùng đồng chiêm trũng này vẫn tìm thấy những nét thật thi vị trong cuộc sống. Niềm lạc quan ấy chắp cánh cho họ bay lên, vượt qua bão lũ, sóng dữ, nuôi con cái lớn khôn thành những dũng sĩ, anh hùng.
Người Hà Nam chăm chỉ, giỏi giang, thạo việc đồng áng như thuộc lòng bàn tay vậy. Nhưng thật tuyệt vời, cả trai tài, gái sắc đều giỏi võ nghệ. Người quê càng đẹp hơn lên trong cảnh quê là vì thế.
Đây là cảnh trai tài:
- Làm trai ở đất làng Đùng
Dẫu chẳng anh hùng cũng biết trình khiên.
(Làng Đùng nay thuộc xã Liêm Sơn, huyện Thanh Liêm, có tục mở hội "trình khiên", tức là múa khiên vào dịp đầu xuân. Dân vùng này xưa không mấy ai không học trình khiên và làm trai đất này không biết trình khiên thì coi như một sự nhục nhã).
Còn đây là gái sắc:
- Chạ Chem có võ đàn bà
Lấy vợ về nhà cưỡi hổ chả sai
Hổ cấy ngày một mẫu hai
Tayngắn đơm đó, tay dài mò cua.
(Chạ chem nay thuộc xã Thanh Bình, huyện Thanh Liêm. Con gai làng này xưa giỏi võ, gan góc, làm cả những nghề thường đàn ông mới dám làm).
2. Kho báu trí tuệ, binh pháp và truyền thống thượng võ, chống ngoại xâm.
Ở Hà Nam có nhiều đền thờ võ tướng, thờ các vị thần đánh giặc ngoại xâm. Điều đáng nói là có một số lượng rất lớn các tác phẩm văn nghệ dân gian nói về truyền thống thượng võ, truyền thống chống giặc ngoại xâm. Đây là nét đặc sắc trong văn nghệ dân gian Hà Nam được đề cập trong các tác phẩm này.
Trước hết, nói về binh pháp dân gian được đề cập trong các tác phẩm này. Muốn chiến thắng giặc ngoại xâm, bí quyết không nằm ngoài tinh thần đoàn kết, trên dưới một lòng, anh em hòa thuận:
- Tâm đồng như thiết thạch.
- Trăm họ cầm tay trời lay đất lở.
Giặc càng mạnh, ta càng phải thu phục nhân tâm, sau đó mới tính đến mưu lược. Đánh giặc phải đánh vào lòng người:
- Nhân tâm đặt trước, mưu lược đặt sau.
Vì thế, quê hương này nhân hậu đã dám xây mộ, xây đền thờ nàng Mị Ê - vợ "giặc", tức chúa Chiêm Thành, bởi nàng đã gieo mình xuống sông Hoàng Giang để giữ tròn trinh tiết.
Trong chiến đấu, phải cần có chiến lược, sách lược, tuỳ theo điều kiện cụ thể của mình mà kháng chiến trường kỳ hay tốc chiến tốc thắng. Dân gian Hà Nam đúc kết:
- Mưa rỉ rả đổ cả thiên sơn.
Rồi dặn dò:
- Gáo nước dập tắt lửa, cỏ ngựa đốt cháy thành.
Chỉ ra thời cơ:
Thiên tuế nhất cơ, vạn tuế nhất cơ.
Khi thời cơ đến thì phản công quyết liệt để giành chiến thắng:
- Đánh cho không kịp bịt tai, không tài quay giáo, không áo tháo chạy.
Và đây là kết thúc chiến tranh:
- Chớ cậy kiếm sắc mà róc đến xương,
Chớ quá dây cương mà nát đường thiên hạ.
Những phép dùng binh trên đây không phải ngẫu nhiên mà có. Tất cả đều được đúc kết từ kinh nghiệm đánh giặc, giữ nước của ông cha ta. Có điều đáng kinh ngạc là ở chỗ kho báu trí tuệ binh pháp của dân gian Hà Nam sao mà gần gũi, đồng điệu với binh pháp của các võ tướng nổi tiếng của ta xưa, nay đến thế.
Phải chăng, binh pháp ấy cũng có phần bắt đầu từ truyền thống thượng võ của người dân đất này. Ở Hà Nam có nhiều hội vật võ, song hội vật võ nổi tiếng nhất vẫn là ở Liễu Đôi, huyện Thanh Liêm. Hội này đã có từ rất lâu đời, mục đích rất cao cả:
Ngàn năm võ vật đua tài
Vạn năm sông núi rộng dài tổ tiên.
Chính vì thế, ở Liễu Đôi nói riêng, ở Hà Nam nói chung có đến hàng ngàn câu tục ngữ, ca dao nói về vật võ và công cuộc giữ nước, chống xâm lược. Hàng trăm tên đất, tên làng đã đi vào văn nghệ dân gian, mỗi làng có một miếng võ gia truyền, chỉ nghe thoáng qua thôi cũng chóng mặt rồi:
Kìa trai Bồng Lạng bước ra
Hai chân lừng lững như là voi nan.
Tấn phía Bắc, thoái phía Nam
Đất rung, gió cuốn, mây tan rụng rời.
Bập bềnh nghiêng ngả hai vai
Miếng chân nát cẳng, miếng tai tung đầu.
Khom vai núi đổ ngang hầu
Lượn vòng rồng cuốn, cất đầu hổ sa.
Tài này đẹp nổi phong ba
Ấy trai Bồng Lạng sơn hà cậy trông.
(Làng Bồng Lạng thuộc xã Thanh Nghị, huyện Thanh Liêm).
Hoặc là:
- Vật đổ La Hào, vật nhào La Quán, vật bung làng Vạn, vật rạn làng Chiềng, vật nghiêng làng Mực.
(Các làng La Hào, La Quán nay thuộc xã La Sơn, huyện Bình Lục. Làng Vạn nay thuộc xã Liêm Thuận, làng Chiềng nay thuộc xã Thanh Tâm. làng Mực nay thuộc xã Liêm Phong, huyện Thanh Liêm).
Trai Hà Nam "Vật đá thành vôi, vật đồi thành nước", "Vật nổ trời nổ đất, vật cho cật thành thau", "Vật cho Ngô mất vía, vật cho tía mất thiêng" nhưng lại không hề võ biền một chút nào. Người ta "Mượn búa Thiên Lôi, bổ đôi kinh bắc" đấy, nhưng người ta có chí hướng rõ ràng: "Mài gươm cứu nòi, gương soi thiên hạ", "Năm lần đánh bằng nhân, mới một lần giương cung, chạm kích".
3. Những làn điệu dân ca độc đáo
Dân ca Lãi Lê là loại hình ca múa rất cổ, được lưu truyền gắn với nghi lễ thờ Triệu Quang Phục, tức Triệu Việt Vương. Hiện trên bờ sông Long Xuyên thuộc địa phận xã Bắc Lý, huyện Lý Nhân còn đền thờ Triệu Quang Phục. Đến nay, chưa ai giải thích cho thoả đáng được vì sao lại có tên là dân ca Lãi Lê, nhưng với khoảng 30 khúc điệu còn lưu giữ được, chúng ta cũng hiểu được một phần sự ngưỡng mộ của nhân dân đối với các vị anh hùng cứu nước và một đời sống tinh thần khá phong phú của ông cha.
Trong các loại hình ca múa rất cổ của Hà Nam , hát dậm Quyển Sơn chiếm vị trí quan trọng nhất. Theo nhiều nhà nghiên cứu, hát dậm Quyển Sơn có từ đời Lý. Khi đánh Chiêm Thành trở về, Lý Thường Kiệt quay lại vùng đất đã từng trú quân là làng Quyển Sơn, thuộc xã Thi Sơn, huyện Kim Bảng ngày nay. Lý Thường Kiệt đã mở hội tế thần (vì ông từng mơ thấy hai vị nữ thần giúp ông đánh giặc) và mừng công. Rất có thể những ngày lưu lại nơi đây, Lý Thường Kiệt và binh lính đã dạy mọi người và nhân dân ca hát. Ngày nay, đền Trúc thờ Lý Thường Kiệt vẫn còn và vào các ngày 5 tháng 2, 2 tháng 5, nhân dân lại mở hội, cùng nhau ca hát. Hiện còn giữ được khoảng 50 khúc điệu ca múa, nội dung rất phong phú, chuyện chiến đấu, chuyện đời thường gắn bó với nhau. Đây là khúc điệu Hỡi anh xinh:
Hỡi anh xinh cho nàng mới mến
Hỡi nàng xinh mới quyến được anh
Mẹ thời ở nhà
Giữ ruộng liền nương
Cha thời chinh tấu
Tai ương chẳng nề
Mẹ thời đến tháng nặng nề
Cha hỡi cha đã về
Còn có đôi tôi.
Ngoài những làn điệu dân ca cổ đã nói trên, hát trống quân ở Hà Nam cũng đáng được lưu ý. Đó là hát trống quân ngoài gióng vật võ và nhất là hát trống quân trên thuyền. Hát trống quân ngoài gióng vật võ ở Liễu Đôi rất tình tứ, nam nữ giao duyên gợi không khí ngày hội tưng bừng và tinh thần thượng võ:
Ăn trầu cho thắm đôi môi
Sao nàng lại để thắm đôi má hồng?
Ai ngăn được má em hồng
Ai ngăn em được lấy chồng kiếm cung?
Còn hát trống quân trên thuyền vừa nói được cái đặc thù của vùng đồng chiêm trũng nước ngập quanh năm, vừa toát lên chất nghệ sĩ, sự trong trẻo, tình yêu cuộc sống đến không thể ngờ của người dân đất này.
Thuyền này là thuyền chở tiên
Thuyền kia thì chở tài hiền sánh đôi.
Ai mà không xuống thì thôi
Xuống thuyền thì phải thành đôi đến già.
Không xuống thì liệu ở nhà
Xuống thì hát đến trăng tà mới thôi.
4. Một số vấn đề đặt ra
- Với trữ lượng lớn, thể loại lại phong phú, văn nghệ dân gian Hà Nam là di sản phi vật thể rất có giá trị của địa phương. Những năm qua, một số nhà nghiên cứu như Bùi Văn Cường, Nguyễn Tế Nhị, Trọng Văn, Mai Khánh, Lê Hữu Bách, Hoàng Giang Phú, Phạm Trọng Lực, Nguyễn Đình Lợi.v.v... đã bỏ ra rất nhiều công sức để sưu tầm, biên soạn. Một số công trình đã được in thành sách hoặc công bố trên báo chí của Trung ương và địa phương. Tỉnh Ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh cũng đã chăm lo cả về công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tạo điều kiện kinh phí hàng trăm triệu đồng để xuất bản một số công trình, đáng chú ý là Văn nghệ dân gian Hà Nam (2000). Công việc sưu tầm, nghiên cứu đòi hỏi sự kỳ công, lâu dài, nghiêm túc, có khi cả đời người lặn lội mà thành quả chẳng đáng là bao. Thế nhưng bạn đọc của các công trình ấy lại ít ỏi. Khi đọc báo chí, nhiều người lật nhanh qua những bài nghiên cứu, sưu tầm. Việc quảng bá cho những công trình nghiên cứu về văn nghệ dân gian chưa nhiều. Chúng ta cần triển lãm tranh, ảnh nghệ thuật, đồng thời càng cần có nhiều hình thức để giới thiệu văn nghệ dân gian với nhân dân lao động để chúng thực sự trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu của họ. Ở Hà Nam có hàng trăm tủ sách pháp luật, nhưng cũng rất cần có những tủ sách về văn nghệ dân gian để mọi người được "soi bóng người xưa".
- Thanh thiếu nhi ngày nay phần đông thích những bài hát mới, hợp lứa tuổi, tâm lý. Nhưng những đối tượng khác, nhiều người vẫn yêu mến lắm những làn điệu dân ca, những tích chèo... Không thể hiểu nổi nếu người Hà Nam lại chỉ biết hát quan họ Bắc Ninh mà không hát được những điệu hát Lãi Lê hay hát Dậm! Vậy nên đã đến lúc phải tổ chức những lớp học để phổ biến dân ca Hà Nam cho chính người Hà Nam để vốn quý của quê hương không bị mai một, thất truyền.
- Đi đôi với việc bảo tồn những giá trị của văn nghệ dân gian là vấn đề phát huy những giá trị đó trong đời sống xã hội hiện nay. Các lễ hội ở Hà Nam có xu hướng ngày càng phát triển. Mặt tích cực của nó là khơi dậy những gì tốt đẹp của truyền thống, niềm tự hào quê hương, ý thức đoàn kết cộng đồng. Song cần kiên quyết gạt bỏ những nghi lễ, hiện tượng chỉ đơn thuần là mê tín dị đoạn, buôn thần bán thánh, làm mất đi cái ý nghĩa vốn tốt đẹp của các lễ hội; đồng thời gắn việc tổ chức lễ hội với việc thực hiện phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa".








