Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 19/07/2010 23:41 (GMT+7)

Bàn về phạm trù “Hoà” của Nho gia đối với sự phát triển ở Trung Quốc hiện nay

Điều đó khiến cho các nhà lãnh đạo Trung Quốc buộc phải lựa chọn hướng đi mới cho sự ổn định, trong đó chữ “Hòa” được đề cập khá nhiều, xoay quanh các lĩnh vực từ đối nội đến đối ngoại như: xã hội hài hòa, văn hóa hài hòa, thế giới hài hòa… nhằm chứng minh cho thế giới thấy Trung Quốc đang nỗ lực tìm kiếm một sự thay đổi mang tính công bằng, hợp lý hơn giữa các nhóm lợi ích trong xã hội. Điều này lại được khẳng định hơn khi vào tháng 10 năm 2006, tại Hội nghị Trung ương 6 khóa XVI, ĐCS Trung Quốc đã nêu lên một cách hệ thống về vấn đề xây dựng xã hội hài hòa XHCN và coi đó như là một lựa chọn cho sự phát triển của Trung Quốc trong tình hình mới. Nội dung chủ yếu của hệ thống lí luận này là coi “xây dựng văn hóa hài hòa là nhiệm vụ quan trọng của xây dựng xã hội hài hòa XHCN. Hệ thống giá trị hạt nhân XHCN là căn bản của xây dựng văn hóa hài hòa” (1). Trong bài viết này, chúng tôi mong muốn làm rõ nhân tố “Hòa” của Nho gia truyền thống có tác động như thế nào tới sự phát triển của Trung Quốc giai đoạn gần đây.

1. Phạm trù “hòa” đối với sự phát triển văn hóa - xã hội của Trung Quốc

* Ý nghĩa phạm trù “hòa” trong văn hóa Nho gia

“Hòa” là phạm trù quan trọng trong tư tưởng của Nho gia. Trong tiếng Hán thì “Hòa” chính là “Hài”, “Hài” chính là “Hòa”. Hai chữ này đều chỉ sự nhịp nhàng, hòa phách trong âm nhạc. Nói cách khác, “Hòa nhi bất đồng”, “trung hòa”, “dĩ hòa vi quý”… đều là những diễn đạt cụ thể của “Hòa”. Trước hết, Nho gia chủ trương thân tâm hài hòa, nhấn mạnh bồi dưỡng nhân cách cao thượng. Bởi suy cho cùng mỗi một cá nhân là một phần tử của xã hội, nếu trong bản thân mỗi người, nhân tâm đều hài hòa thì chính là cơ sở cho việc xây dựng một xã hội lý tưởng. Vì vậy, Nho gia coi việc bồi dưỡng giáo dục cho con người có đạo đức là căn bản của học vấn. Cho rằng, người có đạo đức là điểm tựa căn bản cho một xã hội ổn định và hài hòa. Cho nên, Nho gia chủ trương “dĩ tâm thống thân”, tức là dùng tinh thần để theo đuổi và khống chế dục vọng, ham muốn, nhấn mạnh tới việc “lập đức vi tiên, tu thân vi bản”, để tiến tới “tề gia trị quốc bình thiên hạ”. Ngoài ra, Nho gia còn nhấn mạnh dùng chế độ lễ nhạc để duy trì hài hòa có trật tự giữa người với người và giáo hóa dân chúng, nhấn mạnh tới luân lý quy phạm, coi “Nhân ái” là nguyên tắc cơ bản, có hai con đường để thực thi: Một là, “kỷ dục lập nhi lập nhân, kỷ dục đạt nhi đạt nhân - những gì bản thân mình mong muốn đạt được thì cũng muốn cho người khác đạt được”; Hai là, “kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân - những gì mà mình không mong muốn thì đừng làm cho người khác”. Không chỉ có vậy, Nho gia còn chủ trương “thiên nhân hợp nhất”, theo đuổi sự hòa hợp giữa con người với tự nhiên v.v… Tất cả những điều này, ở góc độ nào đó đều đã thể hiện tư tưởng hài hòa. Đó chính là tinh hoa tư tưởng mà ngày nay Trung Quốc muốn kế thừa và thông qua đó để duy trì được một xã hội ổn định.

* Trung Quốc hướng tới mục tiêu xây dựng văn hóa, xã hội hài hòa

Hiểu một cách nôm na, văn hóa hài hòa chính là hình thái văn hóa, hiện tượng văn hóa, tính chất, trạng thái văn hóa lấy hài hòa làm xu hướng giá trị và nội tại trong tư tưởng. Văn hóa hài hòa bao gồm nhiều phương thức tồn tại như quan niệm, hệ thống giá trị, quy phạm hành vi, sản phẩm văn hóa, tác phong xã hội, thể chế chế độ v.v… Với nội hàm như vậy, văn hóa hài hòa được xác định là nền tảng văn hóa không thể thiếu trong xây dựng một xã hội mà Trung Quốc đang gọi là xã hội hài hòa XHCN nhằm tạo động lực tinh thần, kiên trì tư tưởng, tranh thủ dư luận và điều kiện văn hóa cho việc thúc đẩy xây dựng hiện đại hóa.

Sự nổi lên của văn hóa hài hòa đã phần nào giúp Trung Quốc hóa giải những mâu thuẫn trong xã hội. Như vậy cũng có nghĩa, văn hóa hài hòa rất hữu ích trong việc giúp hình thành quy phạm đạo đức và tạo đà cho sự phát triển chung của một xã hội. Thời xưa văn hóa Trung Quốc đã coi mục tiêu theo đuổi hài hòa là lấy “Nhân ái” làm cơ sở và “mình muốn thành đạt thì cũng để cho người khác thành đạt” là nguyên tắc cơ bản để thực hiện hài hòa. Đồng thời, chú trọng tới tác dụng của việc phát huy văn hóa đối với mục tiêu xây dựng xã hội “Đại Đồng”, nêu cao “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”, yêu cầu cá nhân mỗi con người không chỉ có trách nhiệm với bản thân, gia đình mình, mà còn cần phải có trách nhiệm, phục vụ cho xã hội và đất nước. Điều này vẫn còn rất nhiều giá trị trong cuộc sống hiện đại. Có thể thấy rằng, văn hóa có tác dụng vô cùng tích cực đối với việc xây dựng một xã hội hài hòa ổn định có trật tự.

Không những thế, văn hóa hài hòa một lần nữa như lời cảnh tỉnh, giúp hòa giải những trạng thái không hài hòa giữa con người với tự nhiên, giảm tới mức thấp nhất về chiếm hữu tài nguyên tự nhiên, tiêu hao và ô nhiễm môi trường đang xảy ra ở Trung Quốc. Việc con người đang khai thác, tàn phá nguồn tài nguyên khiến cả thế giới phải chịu những tác động tiêu cực từ chính việc làm của mình. Trong "Lễ Kỷ. Trung Dung" có viết rằng: "Trung là gốc lớn của thiên hạ. Hòa là đạo lý thông đạt trong thiên hạ. Khi đạt "Trí Trung" thì cũng đạt "Trí Hòa" và lúc ấy trời đất được đặt đúng vị trí, nên mọi vật đều được nuôi dưỡng giáo dục" ( [1] ), ý muốn nói chỉ có đạt được hài hòa, thì xã hội mới có thể tiến bộ, phát triển, giữa người với người và giữa con người với tự nhiên mới có thể hài hòa cùng tồn tại, cùng lớn lên. Chính vì vậy, hài hòa giữa con người với tự nhiên cùng là một điểm mà văn hóa hài hòa của Trung Quốc đang muốn hướng tới đề làm thế nào thay đổi phương thức tăng trưởng kinh tế như giảm thiểu những ô nhiễm, hóa giải những trạng thái không hài hòa giữa con người với tự nhiên, cân bằng sự chênh lệch giữa các vùng miền trong sự phát triển kinh tế đã và đang diễn ra ở Trung Quốc, gây ra sự nhức nhối, tác động tiêu cực tới sự ổn định và phát triển.

Một điểm nữa cũng cần phải nhìn nhận là văn hóa hài hòa không chỉ có mối liên quan trực tiếp tới sự phát triển của kinh tế mà còn tạo đà đưa văn hóa Trung Hoa hướng ra thế giới. Chúng ta nên thừa nhận, giữa các nền văn hóa trên thế giới có thể có những xung đột, cách nhìn, quan điểm khác nhau. Chính vì vậy, thông qua giao lưu, đối thoại lẫn nhau để hiểu sâu sắc hơn là điều cần thiết. "Hòa" cũng bao gồm mâu thuẫn xung đột, xung đột để có thể hiểu biết lẫn nhau. Đây chính là phép biện chứng. Trong xã hội quốc tế "Hoà nhi bất đồng" chủ yếu là thông qua đối thoại, đàm phán để hóa giải những tranh chấp, để đạt tới hài hòa. Mục đích cuối cùng của tư tưởng hài hoà trong văn hóa Trung Quốc chính là đạt cho được hài hòa của toàn nhân loại, đạt tới hài hoà giữa con người với tự nhiên. Ngày nay, quan niệm hài hoà dường như đã trở thành tiêu chuẩn giá trị cơ bản để xử lý mối quan hệ giữa người với người, giữa con người với xã hội, giữa dân tộc với dân tộc, giữa quốc gia với quốc gia v.v…

Thực tế cho thấy, việc Trung Quốc vận dụng "Hoà" của tư tưởng Nho gia trong quan hệ với các nước trên thế giới, với các nước láng giềng như thế nào đang thu hút sự quan tâm rộng rãi của dư luận.

2. Phạm trù "Hoà" trong lĩnh vực kinh tế - chính trị

* Quan điểm kinh tế hài hòa của Nho gia

Các Nho gia không những chú trọng tới tư tưởng chính trị hài hòa, mà còn nhấn mạnh tới tư tưởng kinh tế hài hoà, với triết lý giầu nghèo đều như nhau. Bởi theo các Nho gia khi của cải không ngừng tăng lên tức là duy trì một tiền đề cơ bản để xã hội vận hành bình thường và phát triển liên tục, còn việc phân phối của cải một cách hợp lý sẽ là cơ sở quan trọng để bảo đảm xã hội ổn định và thực hiện hài hoà. Vì vậy, xã hội hài hòa vừa liên quan đến việc của cải tăng trưởng liên tục, lại càng liên quan tới việc phân phối của cải hợp lý. Khổng Tử từng nói: "chẳng lo dân ít mà chỉ lo sự phân chia không đều, không lo nghèo mà lo xã tắc không yên". Tư tưởng này của Khổng Tử đã có ảnh hưởng rất lớn đối với quan niệm giá trị và cách thức tư duy của người Trung Quốc. Nhưng “không sợ ít mà chỉ sợ không đều” do Khổng Tử đề xướng chính là mưu cầu về sự phát triển của nền kinh tế và sự tăng trưởng về của cải; cũng chính là chủ trường mong muốn mọi người hãy làm việc hết khả năng của mình, đồng thời dựa vào công lao động để phân chia của cải. Việc phân phối của cải là vấn đề điều hoà và cân bằng lợi ích. Như vậy thì sẽ đảm bảo được lợi ích của tất cả mọi người trong xã hội. Có thể nói, những tư tưởng về kinh tế hài hoà của Nho gia vẫn có giá trị trong xã hội hiện đại

* Tư tưởng chính trị hài hoà của Nho gia

Một đặc điểm nổi bật nữa trong xã hội cổ đại của Trung Quốc là nhấn mạnh tới tư tưởng chính trị hài hoà. Mặc dù việc thực hiện nền chính trị thời cổ đại ở Trung Quốc có những đặc điểm chuyên chế và những khuynh hướng quyền uy, nhưng đằng sau những chuyên chế và những quyền uy đó thì vẫn ẩn chứa tư tưởng chính trị hài hoà vô cùng phong phú.

Mạnh Tử từng nói về “Nhân Chính-dùng nhân nghĩa trong chính trị” là phải biết coi “Dân quý nhất, thứ đến xã tắc, rồi mới đến vua”và cho rằng nhà vua nên cùng dân chúng chung hưởng niềm vui, tạo điều kiện cho dân làm ăn sinh sống. Không chỉ có vậy, nhà vua nên giảm hình phạt, nhẹ thuế khoá, khuyên bảo thanh, thiếu niên trong thời gian rảnh rỗi nên học tập đạo lý này để ở nhà thờ phụng cha mẹ, ra ngoài phụng sự bề trên. Hơn nữa, nhà vưa đừng sai khiến dân làm việc công vào mùa cấy gặt, khuyên dân không đánh cá ở đầm ao sâu bằng lưới dày (chỉ nên bắt cá to còn cá nhỏ thì để chúng lớn lên), rồi cấp ruộng đất cho dân cày cấy, trồng dâu nuôi tằm v.v… Được như thế thì trăm họ có thể đồng lòng dốc sức vậy.

Khổng Tử và các Nho gia đời sau đều coi trọng ý nghĩa giáo dục của “Hoà”, coi trọng lấy ý thức hoà hợp để điều hoà mâu thuẫn do sự khác biệt tạo ra. Mặc dù nhấn mạnh đến tác dụng của Lễ, nhưng mục tiêu chính thì lại là “Hoà”, “Hoà” mới là mấu chốt căn bản để vận hành xã hội. Điều này chứng tỏ, trong tư tưởng của Nho gia “Hoà” là một phạm trù rộng và có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong đời sống xã hội. Như thế cũng không có nghĩa là coi nhẹ ý nghĩa của Lễ, bởi trong tư tưởng của Nho gia thời cổ đại, phạm trù Lễ cũng tương đối rộng.

3. Phạm trù “Hoà” trong lĩnh vực đối ngoại

Có thể thấy rằng những năm gần đây chính sách ngoại giao của Trung Quốc đã có nhiều thay đổi để không ngừng thích ứng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế và những chuyển biến nhanh chóng của tình hình thế giới. Bên cạnh việc xuất hiện, tham gia nhiều hơn vào công việc quốc tế, Trung Quốc còn tổ chức nhiều hoạt động giao lưu văn hoá giữa Trung Quốc với các nước khác và đặc biệt là Trung Quốc còn đề ra những khẩu hiệu”Thế giới hài hoà”, châu Á hài hoà.

Học thuyết “Trung Quốc trỗi dậy hoà bình” được Trung Quốc lần đầu tiên đưa ra vào năm 2003 tại diễn đàn châu Á, Bác Ngao (Hải Nam), đánh dấu sự bắt đầu của quan niệm mới trong chiến lược phát triển. Mặc dù có nhiều tranh luận xoay quanh vấn đề giữa “phát triển hoà bình” và ‘trỗi dậy hoà bình” nhưng dù sao thì sự trỗi dậy của Trung Quốc đều thể hiện mục tiêu dân tộc và quốc gia giàu mạnh, muốn mở rộng vị thế của mình ra bên ngoài bằng nhiều con đường khác nhau. Trung Quốc đưa ra quan niệm “thế giới hoà bình” đã phần nào thể hiện rõ nhận thức của Trung Quốc đối với thế giới. Trung Quốc muốn xoá bỏ những trật tự thế giới cũ, thay vào đó là một trật tự thế giới mà ở đó Trung Quốc sẽ tham dự với vai trò tích cực hơn, chủ động hơn trên trường quốc tế. Đương nhiên, đây không chỉ là sự kế thừa và phát triển của năm nguyên tắc chung sống hoà bình mà còn là sự truyền bá và kế thừa tư tưởng “hoà hợp” từ văn hoá truyền thống của Trung Quốc ra thế giới bên ngoài.

Qua đây chúng ta có thể thấy rằng, nếu dựa trên nền tảng của tinh thần “Nhân ái”, “Hoà vi quý”, coi “Hoà vi quý” là chuẩn tắc tối cao để vận dụng vào quan hệ đối ngoại thì sẽ đạt được “thế giới hài hoà”, nhận được sự ủng hộ của các nước. Thông qua những phương thức truyền bá thực hiện như thế, Trung Quốc mong có thể xoá bỏ những nghi ngờ về thuyết đe doạ mà nhiều nước phương Tây đưa ra trong thập kỷ 90 của thế kỷ trước.

Có thể nói, tinh thần nhân văn, lý tưởng giá trị truyền thống Trung Quốc là “Hoà”, văn hoá truyền thống Trung Quốc cũng đã có rất nhiều kiến giải tinh tuý về vấn đề này. Nho gia, Mặc gia và Đạo gia từ những góc độ khác nhau đều đã đề xướng “hoà” hoặc “hoà hợp”, coi đó là phương thức tốt nhất để hoà giải những xung đột giữa người với người, giữa con người với thiên nhiên, giữa quốc gia với quốc gia … Ở góc độ nhất định có thể nói, phạm trù “hoà” là tinh hoa của văn hoá truyền thống Trung Quốc, cùng với cơ sở lý luận là “thương yêu nhau, cùng có lợi” mà Trung Quốc đưa ra trong thời gian qua. Vấn đề quan trọng là Trung Quốc hiện nay sẽ vận dụng điều này như thế nào, thực hiện ra sao, còn cần sự kiểm chứng của thời gian.

Hoà theo sự phát triển chung của kinh tế toàn cầu, mối liên hệ giữa các nước trên thế giới ngày càng trở nên gắn bó, mức độ phụ thuộc lẫn nhau nhiều hơn thì tầm quan trọng của việc coi hài hoà là chuẩn tắc trong xử lý mối quan hệ cũng như dùng phương thức hoà bình để xử lý mâu thuẫn giữa các quốc gia, dân tộc ngày càng được khẳng định. Có thể nói, những quan điểm như “Hoà vi quý”, ‘thiên hạ vi công”, “tứ hải giai huynh đệ” … sẽ luôn có giá trị trong xã hội hiện đại.

Tóm lại,tư tưởng Nho gia về phạm trù “Hoà” vẫn chứa đựng những giá trị tư tưởng có đóng góp tích cực, không thể thiếu được đối với việc xây dựng, phát triển một xã hội hiện đại ngày nay. Về vấn đề này, vào tháng 10 năm 2002, Giang Trạch Dân trong bài phát biểu của mình tại Thư viện Tổng thống Bush ở Mỹ đã từng nói:”Hơn hai nghìn năm trước, Khổng Tử - nhà tư tưởng thời Tiên Tần của Trung Quốc từng đưa ra tư tưởng "hòa nhi bất đồng". Hài hòa để cùng tồn tại cùng phát triển, bất đồng để tương bổ tương thành. "Hoà nhi bất đồng" là một quy luật quan trọng để liên hệ tới việc phát triển giữa các sự vật trong xã hội. Đây cũng là tiêu chuẩn mà mọi người cần tuân thủ khi hành xử ở đời, hay nói cách khác đó là chân lý để phát triển hài hòa nền văn minh của nhân loại". Trung Quốc nói như vậy, người ta mong rằng Trung Quốc cũng sẽ làm được như vậy. Đó mới là sự đóng góp quan trọng của "hòa" trong sự phát triển của Trung Quốc cũng như của thế giới./.



[1]"Lễ kỷ, Trung Dung: " Trung dã giả, thiên hạ chi đại bản dã. Hoa dả giả, thiên hạ chi đạt đạo dã. Trí trung hòa, thiên địa vị yên, vạn vật dục yên". Ngữ văn Han Nôm, T1. NXB KHXH, 2004, Tr.97

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Thủ tướng Lê Minh Hưng lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Philippines
Nhận lời mời của Tổng thống nước Cộng hòa Philippines Ferdinand Romualdez Marcos Jr, Chủ tịch ASEAN năm 2026, ngày 7/5, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Minh Hưng dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Cebu, Philippines từ ngày 7 đến 8/5/2026.
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.