Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 19/08/2005 14:16 (GMT+7)

Bản lĩnh Việt Nam

Nếu các vị ấy tìm hiểu thêm tại sao là Việt Nam chớ không phải nước nào khác bị xâm lược nhiều lần, bị đô hộ dài ngày như thế, thì khó trả lời đấy. Câu trả lời ít bị tranh cãi nhất là, phải chăng vì tạo hoá vô trị đặt để Việt Nam nhỏ yếu mà trù phú bên cạnh ông Khổng lồ và ở trên ngã ba đường thông thương quốc tế bắc, nam, đông, tây. Ởvị thế địa lý ấy, Việt Nam khác nào miếng thịt ngon phới trước mồm hổ đói, tránh đâu khỏi bị xâu xé, bị dẫm đạp. Trong cảnh ngộ đó, Việt Nam hoặc phải bị nghiền nát như tương, hoặc phải trở nên rắn như thép.

Quyết không chịu nghiền nát như tương, mà quyết làm tất cả để trở nên rắn như thép, đó là bản lĩnh Việt Nam . Bản lĩnh này không phải dân tộc Việt Nam sinh ra đã có, mà được hình thành trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước. Lâu nay, khách thập phương đến Việt Nam, trò chuyện và đọc sách đều nghe thấy hết sức phổ biến những châm ngôn nói lên đặc điểm chính của bản lĩnh Việt Nam : "Tự lực tự cường", "lấy yếu đánh mạnh", "lấy ít địch nhiều", "lấy chí nhân thay cường bạo".

Chúng ta hãy chịu khó trở về với một ít đoạn lịch sử Việt Namđể xem bản lĩnh Việt Nam hình thành và phát huy tác dụng như thế nào.

Nhắc lại danh xưng xưa nhất của Việt Nam là Văn Lang; nước Văn Lang hình thành độ thế kỷ XVII (tr.CN) từ sự thống nhất 15 bộ Lạc Việt dưới quyền vua Hùng. Cạnh Văn Lang có bộ lạc Âu Việt. Do phải chung sức chống quân Tần uy hiếp, Âu Lạc và Lạc Việt hợp nhất thành nước Âu Lạc. Âu Lạc tồn tại 50 năm từ 257 (tr.CN) đến 208 (tr.CN) thì bị quân Triều Đà nước Nam Việt đánh chiếm. Triệu Đà là người Hán, NamViệt là thần thuộc của Bắc quốc Tần, Há. Âu Lạc bị Bắc quốc đô hộ mãi cho đến năm 938 mới giành được độc lập. Như vậy Âu Lạc bị đô hộ suốt 1.200 năm.

Bây giờ người Việt Nam hoặc có đọc, hoặc không đọc "Tây du ký" đều biết chuyện Tôn Ngộ Không bị Phật Bà Quan Âm bắt nạt, dằn đè dưới Ngũ Hành Sơn 500 năm mới được Phật Bà mở Ngũ Hành Sơn, cho theo phò Đường Tăng Tam Tạng đi thỉnh kinh ở Đông Đô. Nhưng Việt Nam ngày nay ít ai biết dân tộc mình làm sao chịu nổi 1.200 năm đô hộ của Bắc quốc Hán, Đường, không diệt mất, chẳng những không diệt mất mà còn tự mình vùng lên lật đổ "Ngũ Hành Sơn", lật đổ Bắc quốc, đạt một chiến thắng hiếm có ở bất kỳ nơi nào trong thời cổ đại. Trong thời gian hơn ngàn năm đó, Âu Lạc có thể bị chia cắt thành nhiều châu, quận, và Bắc quốc có thể chuyển tay qua nhiều triều đại, song tất cả các triều đại đều thực thi ở Âu Lạc một chính sách lớn như nhau, ấy là chinh phục và đồng hoá.

Đông Á là vùng địa cầu có cư dân sớm. Ở trung tâm, trên lưu vực sông Hoàng Hà, dân tộc Hán sớm lập nghiệp, văn hoá cao hơn các dân tộc nhỏ bốn chúng quanh. Các dân tộc nhỏ, văn hoá thấp hơn, bị người Hán khinh miệt là "Nam Man", "Đông Di", "Bắc Địch", "Tây Nhung". Có một số lần Di, Địch, Nhung cả gan xâm nhập nước Hán, nhưng thường nhất là Hán bung ra đánh chiếm bốn chung quanh. Trong khi đô hộ, thực dân phong kiến Hán để nhiều công sức đồng hoá, Hán hoá các dân tộc bị trị. Đồng hoá là đặc sắc nổi bật của thực dân phong kiến Hán; ở đó họ đã thành công về cơ bản. Thất bại của họ ở Âu Lạc là một trong vài ngoại lệ. Sách giáo khoa Trung Quốc " Trung Quốc lịch sử giản biên"của Phạm Văn Lan ca ngợi sự thành công của chính sách Hán, như sau:

"Dân tộc Hoa và các dân tộc khác nhau trong nội bộ Trung Quốc và ở bốn chung quanh có văn hoá khác nhau nên thường xảy ra chiến tranh. Kết quả cuộc đấu tranh, văn hoá Hán được mở rộng, Trung Quốc cũng được mở rộng. Đến cuối đời Đông Chu, phàm các dân tộc tiếp thu văn hoá Hoa Hán và đại thể đã hoà hợp thành một dân tộc Hoa".

"Đã hoà hợp thành một dân tộc Hoa?". Nếu vậy thì không có Man, Di, Địch, Nhung nữa hay sao ? Đúng là phần lớn không còn. Nhưng ít ra cũng còn một, ấy là Lạc Việt Nam Man. Lạc Việt, đứng trước tai hoạ "đồng hoá", không chịu di dời đi xứ lạ mà cứ "bám đất, bám làng". Ở "Nam Man", Bắc quốc thực thi chính sách đồng hoá thuận lợi hơn "Bắc Địch", "Tây Nhung", vì miền Bắc, miền Tây là những đồng cỏ sa mạc, còn Âu Lạc, Giao Châu là đồng ruộng phì nhiêu. Cho nên đông đảo người Hán xuống Nam hơn là lên Bắc, sang Tây. Người Hán di cư xuống Nam sống thoải mái chung chạ với người Việt, đời này đến đời kia, thế kỷ này đến thế kỷ nọ, trời tha đất dung, suốt bao năm như thế thì tự nhiên dòng máu Hán - Việt sao khỏi pha trộn. Nhưng lạ thay, mà cũng là tự nhiên thôi, rốt cuộc rồi lịch sử không chứng kiến sự đồng hoá, sự Hán hoá mà ghi nhận thực tế ngược lại: Việt hoá mạnh hơn Hán hoá. Hán hoá yếu hơn Việt hoá hoàn toàn không phải vì chính quyền đô hộ thờ ơ mà vì xóm làng Việt, cộng đồng Việt tỏ ra ưu điểm trong đối nhân xử thế làm cho người nước ngoài cảm phục, thuận tình. Điển hình Việt hoá được cả Nam sứ và Bắc sứ nhắc nhở nhiều hơn hết là anh hùng Lý Bí đã lập nên nước Vạn Xuân độc lập. Lý Bí là cháu bảy đời của một người Tây Hán lánh nạn sang Giao Châu. Dân tộc Việt được bảo toàn. Quê ông cha, tổ tiên vẫn do dân tộc Việt cấy cày !

Để thực thi chính sách đồng hoá, Bắc quốc nắm cả hai ưu thế lớn, một là dân số đông, hai là văn hoá cao. Văn hoá Hao Hạ cao hơn nhiều văn hoá Việt. Dạy Nho giáo, dạy chữ Hán, dạy văn hoá Hán thì chắc ăn một cách êm ái, một cách "ban ân". Người Việt lại là một dân tộc chưa có chữ của mình. Các nhà cầm quyền đô hộ sớm lập nhiều trường học. Người Hán di cư mà học thức cao cũng kiếm sống bằng trường học. Dân Việt chẳng những học ở Giao Châu mà còn sang học tận kinh đô Bắc quốc. Bằng cách đó, Bắc quốc đã đào tạo không ít người Việt làm viên chức, nhưng làm sao tránh khỏi nhiều người Việt học giỏi, đỗ cao; mà về nước tham gia đấu tranh giải phóng là Tinh Thiều, cánh tay phải của Lý Nam Đế nước Vạn Xuân. Người đời sau nhận xét:

"Dù với động cơ mục đích như thế nào, sự ra đời trường lớp dạy Nho ở Giao Châu, đã dần hình thành một tầng lớp trí thức người Việt"

Người Việt học chữ Hán mà đọc bằng tiếng Hán Việt. Người Việt học chữ Hán mà dựa vào chữ Hán để sáng tạo ra chữ Nôm của riêng mình. Nhờ chữ Hán, nhờ học Nho, tiếng Việt được phong phú thêm nhiều, rất nhiều, mà bản sắc dân tộc Việt thì không mất.

Trong hơn ngàn năm dưới ách đô hộ, người Việt của nước Văn Lang, Âu Lạc không quên rằng mình nói tiếng Việt, mình không phải là người Hán; người Việt có quá đủ thời giờ để thấy rằng muốn được thoát khỏi ách ngựa trâu, phải cần đánh đổ ngoại bang. Ý thức đó sớm đến, cho nên trong suốt thời Bắc thuộc, ở Âu Lạc, Giao Châu, đã nổ ra không biết bao nhiêu cuộc khởi nghĩa lớn nhỏ, thành hay bại, xem như không bao giờ dứt; khởi nghĩa như một lò lửa sưởi ấm mãi ý chí quật cường. Cuộc khởi nghĩa lớn đầu tiên là khởi nghĩa Hai Bà Trưng (năm 40) thắng lợi , dựng triều đình Trưng Vương. Cuộc khởi nghĩa lớn nhất, thành công, là khởi nghĩa Lý Bí (năm 542) lập nước Vạn Xuân; Lý Nam Đế băng hà thì Triệu Quang Phục tiếp nối (năm 548). Cuộc khởi nghĩa Mai Thúc Loan (năm 728) cũng là một cuộc khởi nghĩa lớn. Mai dấy binh ở Âu Lạc, biết liên kết với Lâm ấp, Chân Lạp. Mai được quân dân Việt tôn phong Hoàng đế. Nhà Đường phải đem 10 vạn quân mới thắng nổi Mai Hắc Đế. Cuộc khởi nghĩa cuối cùng là Dương Đình Nghệ nổi lên tự chủ ở Hồng Châu, chấm dứt ngàn năm Bắc quốc đô hộ bằng trận toàn thắng của Ngô Quyền tiêu diệt quân Nam Hán trên sông Bạch Đăng (năm 938), Văn Lang, Âu Lạc khôi phục, từ đây là nước Đại Việt.

Vào thế kỷ thứ XIII, mới được giải phóng chưa được bao lâu, thì dân tộc Việt phải đương đầu với Nguyên, nước lớn mạnh nhất thế giới khi ấy. Rồi, vào thế kỷ XX, dân tộc Việt Nam lại phải đương đầu với Mỹ, cũng là nước lớn mạnh nhất thế giới lúc bấy giờ. Mà, kỳ diệu thay cả hai lần, dân tộc Việt Nam đều thắng ! Nơi nào, thời nào cũng có như thế ? Khó cắt nghĩa vì sao lịch sử nhân loại trút đổ lên lưng một nước nhỏ muôn trùng tai hoạ chiến tranh như thế ? "May" mà tai hoạ ấy cũng là những vòng nguyệt quế được lịch sử nhân loại trao tặng cho một dân tộc không khi nào háo chiến mà luôn có bản lĩnh cao cường, dám đánh dám thắng cả hai đại quốc mạnh nhất toàn cầu.

Nhà nước Mông hình thành vào thế kỷ XIII, đứng đầu là Thiết Mộc Chân. Năm 1211, Thiết Mộc Chân đánh chiếm Trung Đô (Bắc Kinh) của nhà Tống, năm 1216 đánh chiếm Tân Cương; năm 1211 đánh chiếm Capcadơ và vào nước Nga; năm 1228, đánh chiếm Bắc Tống, đồng thời đánh chiếm Đông Nga rồi ào sang Trung Âu, đến tận thành Vơnidơ (Ý) làm cho Giáo hoàng La Mã kinh hồn; năm 1258, tràn vào Lưỡng Hà chiếm kinh đô Bát Đa thiên cổ; cũng năm ấy, quân Mông Cổ đánh chiếm Nam Tống. Toàn bộ nhà Tống sụp đổ, vua tôi Tống chạy ra biển, rồi ôm nhau nhảy xuống biển. Nước nguyên thành lập.

Nguyên buộc triều đình Trần phải để họ vào Đại Việt để sang chiếm Nam Á. Thì Đại Việt phải tính sao bây giờ ? Kháng cự ? Tống kia còn thua, hà huống chi Việt ? Để họ vào là mất nước, không cho họ vào, họ cũng cứ vào! Vua Trần Nhân Tông thăm dò ý kiến quần thần. Hỏi tướng lĩnh, Trần Hưng Đạo tâu: "Đâu tôi chưa rơi, hoàng thượng đừng lo". Hỏi các bô lão thì Hội nghị Diên Hồng nhất trí: Đánh! Hỏi quân đội thì Hội nghị Bình Than một lòng: Đánh ! Quân và dân sắp ra trận đều xâm chữ "Sát Thát" trên vai. Đại Việt dám đánh ! Đại Việt cũng biết thắng. Can đảm đi song đôi với tài trí. Quân Nguyên tiến đánh Đại Việt đến ba lần, cả ba đều thất bại. Cả ba đều thất bại thì còn đổ thừa cho "may rủi" sao được nữa ? Thất bại lần thứ nhất năm 1257, lần thứ hai năm 1285, lần thứ ba năm 1286. Bão táp sa mạc từ đồng cỏ tràn tới mé sông Hồng, sông Thái Bình thì vô hiệu.

Ai dè 700 năm sau bão cát Nguyên - Mông, lại nổi lên bão biển Mỹ, dữ dội gấp mấy lần nhưng rồi cũng phải tan biến dưới chân dải Trường Sơn. Không phải tan biến sau mấy tháng mà sau 20 năm bom đạn (1954-1975). Vài con số, nếu cần: Mỹ huy động ra chiến trường Việt Nam 1.500.000 quân Mỹ và chư hầu; huy động 50% không quân chiến lược, 32% không quân chiến thuật; Mỹ ném xuống Việt Nam 47 triệu tấn bom, gấp ba lần số bom Mỹ ném trong chiến tranh Triều Tiên; mà cứ phải chịu thất bại, chịu rút hết quân, chịu công nhận nước Việt Nam độc lập thống nhất.

Do đâu Mỹ thất bại ? Hẳn không phải chịu thiếu tiền, thiếu súng, thiếu quân. Chắc rồi ngày nào đó sẽ có một hội thảo quốc tế về "Chiến tranh Việt Nam" của Mỹ. Riêng Việt Nam thì mong rằng không có một cuộc chống xâm lăng nào nữa để chứng minh thêm bản lĩnh dân tộc mình "Tự lực, tự cường", dám đánh, quyết thắng; lấy yếu thắng mạnh, lấy ít địch nhiều, lấy chí nhân thay cường bạo.

Nguồn:Văn hiến Việt Nam , số 8 (40), năm 2004, tr 5-7

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Chủ tịch Phan Xuân Dũng chúc mừng đội ngũ thầy thuốc nhân kỷ niệm 71 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam
Nhân dịp kỷ niệm 71 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/2/1955 - 27/2/2026), ngày 26/2, Đoàn công tác Liên hiệp Hội Việt Nam do TSKH Phan Xuân Dũng, Chủ tịch Liên hiệp Hội Việt Nam làm Trưởng đoàn, cùng đại diện lãnh đạo Văn phòng và các Ban chuyên môn đã đến thăm và chúc mừng lãnh đạo, cán bộ, hội viên Tổng hội Y học Việt Nam, Hội Đông y Việt Nam và Hội Dược học Việt Nam.
Phát triển Khoa học công nghệ để biển đảo trở thành cực tăng trưởng xanh
Trong kỷ nguyên số, việc ứng dụng KHCN để phát triển bền vững biển, đảo không chỉ là một chiến lược kinh tế, mà còn là hành động thiết thực bảo vệ chủ quyền, nâng cao đời sống nhân dân. Trong không khí những ngày đầu Xuân, khi đất trời giao hòa, lòng người hướng về nguồn cội, chúng ta càng thêm trân quý vùng biển thiêng liêng của Tổ quốc. Mùa Xuân là mùa của khởi sắc, của những kế hoạch dài hơi.
Nghệ An: Thường trực Tỉnh ủy gặp mặt đại biểu trí thức, văn nghệ sĩ tiêu biểu đầu Xuân Bính Ngọ 2026
Chiều ngày 25/02, tại Nhà khách Nghệ An đã diễn ra buổi gặp mặt đại biểu trí thức, văn nghệ sĩ tiêu biểu nhân dịp đầu Xuân Bính Ngọ 2026. Tham dự hội nghị có đồng chí Võ Thị Minh Sinh - Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh, Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội chủ trì hội nghị cùng lãnh đạo đại diện UBND tỉnh, sở, ban, ngành cùng 66 đại biểu trí thức, văn nghệ sĩ tiêu biểu.
Đoàn công tác Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam thăm và làm việc với Viện Nghiên cứu Văn hóa và Phát triển, Tạp chí điện tử Văn hóa và Phát triển
Chiều 25/2 (tức ngày 9 tháng Giêng năm 2026), Đoàn công tác của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam do Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh - Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy, Phó Chủ tịch Liên hiệp Hội – làm Trưởng đoàn đã đến thăm và làm việc với Viện Nghiên cứu Văn hóa và Phát triển, Tạp chí điện tử Văn hóa và Phát triển.
An Giang: Ra mắt Hội đồng quản lý Quỹ Tiếp sức tài năng nhiệm kỳ 2025 - 2030 và trao hỗ trợ tiếp sức cho sinh viên
Sáng 21/02 (Mùng 5 Tết), tại Khách sạn Đông Xuyên, phường Long Xuyên, Quỹ Tiếp sức tài năng An Giang tổ chức Họp mặt biểu dương cá nhân tiêu biểu xuất sắc, trao hỗ trợ - tiếp sức cho sinh viên năm học 2025-2026 và ra mắt Hội đồng quản lý nhiệm kỳ 2025 - 2030.
VUSTA tổ chức gặp mặt đầu Xuân Bính Ngọ 2026
Sáng 23/2, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức Chương trình gặp mặt đầu xuân Bính Ngọ 2026. Tham dự chương trình có lãnh đạo Đảng ủy, Thường trực Đoàn Chủ tịch VUSTA; lãnh đạo, cán bộ và người lao động các đơn vị thuộc Cơ quan Trung ương và một số đơn vị trực thuộc.