Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 28/11/2006 00:48 (GMT+7)

Bản chất của văn hóa dân gian là cái đẹp của cuộc sống

Chúng ta đã biết, văn hoá dân gian là phương thức sinh hoạt của nhân loại, do điều kiện vật chất của xã hội và truyền thống lịch sử quyết định, nó thay đổi theo những điều kiện khác nhau của thời đại, khu vực, dân tộc, v.v.. Phương thức sinh hoạt của dân chúng muôn màu muôn vẻ. Cùng là ẩm thực nhưng ở các khu vực khác nhau, các thời đại khác nhau sẽ có những khác biệt rất lớn. Có nơi ăn gạo, có nơi ăn bánh mì, có nơi ăn bánh ngô, có nơi không ăn chất bột mà chỉ ăn thịt, có nơi người nguyên thuỷ còn ăn thịt người... Về cách ăn, có nơi dùng đũa, có nơi dùng dĩa, có nơi ăn bốc,... Chúng ta đối xử với các loại hình văn hoá dân gian khác như thế nào? Có một số người cho rằng văn hoá dân gian của chính họ là tốt đẹp, nhưng họ lại phủ định hoặc coi thường những loại hình văn hoá dân gian khác, thậm chí có học giả phương Tây cho rằng các dân tộc phương Đông đều là “người nguyên thuỷ”. Về sau, người ta phát hiện ra khái niệm dã man và văn minh cũng chỉ là tương đối, trong văn hoá dân gian của các dân tộc đều có cái tốt và cái xấu, cái ưu và cái khuyết, cho nên đã xuất hiện thuyết văn hoá tương đối. Quan điểm lí luận này đến nay vẫn có những ảnh hưởng rất lớn.

Thuyết văn hoá tương đối cho rằng các loại hình văn hoá dân gian không sợ rằng mình thuộc loại dã man lạc hậu, mà tuỳ theo điều kiện của từng lúc, từng nơi đều là hợp lí, đều đáng trân trọng. Ưu khuyết của văn hoá dân gian chỉ là tương đối, rất khó xác định tiêu chuẩn tốt - xấu. Thuyết này phản đối kì thị chủng tộc, phủ định quan điểm cho rằng phương Tây là trung tâm, mang ý nghĩa tiến bộ. Nhưng khi tiến hành phân tích khoa học bằng phương pháp biện chứng thì có thể tìm thấy những điểm thiếu sót của nó.

Mọi loại hình văn hoá dân gian đều là những sáng tạo tập thể của quần chúng nhân dân. Người ta dựa vào những quy luật thẩm mĩ để sáng tạo, những sản phẩm mà họ sáng tạo ra trong điều kiện ở địa phương đó, vào thời điểm đó, với cách nhìn của họ, chúng đều là những thứ tốt đẹp nhất, cho nên mọi người không quy ước nhưng đều mô phỏng theo, phổ biến và kế thừa, tuân thủ theo thông lệ của nó, lấy cái mới làm thành phong tục mới, rồi trở thành khuôn mẫu của cuộc sống, khuôn mẫu văn hoá. Bởi vì lí tưởng thẩm mĩ, điều kiện khách quan của người dân địa phương ấy ở thời gian ấy quyết định. Sau khi xã hội thay đổi dẫn đến những thay đổi của điều kiện khách quan và chủ quan, văn hoá dân gian cũng thay đổi theo. Trước đây người ta cho rằng bó chân nhỏ là đẹp, ăn thịt người..., về sau, họ lại cho rằng như thế là không đẹp, thì nó trở thành phong tục lạc hậu, đã có những phong tục tập quán mới tốt đẹp hơn thay thế chúng. Như thế, văn hoá dân gian đã thay đổi, phát triển theo sự tiến bộ xã hội. Xu hướng chung của sự thay đổi là càng thay đổi càng đẹp. Quy luật phát triển của văn hoá dân gian chính là quy luật của thẩm mĩ. Đến đây chúng ta có thể đưa ra kết luận rằng bản chất của văn hoá dân gian chính là thẩm mĩ của cuộc sống.

Các loại hình văn hoá dân gian đều hình thành, phát triển, thiên biến vạn hoá theo lí tưởng thẩm mĩ không giống nhau. Các thời đại, các khu vực, các dân tộc có lí tưởng thẩm mĩ, tiêu chuẩn thẩm mĩ không giống nhau, vì vậy đã sản sinh ra các loại hình văn hoá dân gian không giống nhau. Đây chính là tính tương đối của cái đẹp quyết định. Nhưng trong cái tương đối bao hàm cái tuyệt đối. Trong bất kì sự vật nào đều có sự thống nhất của tương đối và tuyệt đối. Cái đẹp của văn hoá dân gian cũng như vậy, cái đẹp tuyệt đối được thông qua hình thức thể hiện của cái đẹp tương đối. Trong bất kì cái đẹp tương đối nào đều hàm chứa những phân tử của cái đẹp tuyệt đối. Tôi cho rằng những phân tử của cái đẹp tuyệt đối chính là cái “chân” của nội dung và hình thức của nó, như thế cũng phù hợp với quy luật khoa học, cũng là sự thống nhất của chân, thiện, mĩ. Bởi vì rất nhiều cái đẹp tuyệt đối có thể phân biệt tốt xấu, tiến bộ, lạc hậu của văn hoá dân gian. Ví dụ tập quán vệ sinh, có nơi tuỳ tiện đại tiểu tiện trên mặt đất, có nơi đào hố để làm nhà vệ sinh, có nơi lại ngồi bô, có nơi hiện đại thì dùng bệ xí giật nước. Những phong tục này đều có lí do tồn tại của nó, nhưng không thể nói chúng đều giống nhau, cũng không thể nói đến tiên tiến và lạc hậu, nếu không sẽ vứt bỏ việc thay đổi phong tục tập quán, để nỗ lực xúc tiến những tiến bộ xã hội.

Hơn hai ngàn năm trước ở Trung Quốc đã đưa ra nhiệm vụ “thay đổi phong tục tập quán” nhưng mãi đến “Cách mạng văn hoá” vẫn chưa nắm vững được quy luật thay đổi phong tục tập quán, để đến lúc “phá bỏ bốn cái cũ” diễn ra rất dữ dội, những gì là phong kiến, mê tín ngày càng trở nên tồi tệ và kết quả nhận được là ngược lại. Thực ra, trong bất kể hiện tượng tôn giáo, mê tín nào cũng có những phân tử tốt đẹp, nó phù hợp với nhu cầu tâm lí của con người và nhu cầu phát triển của xã hội. Có rất nhiều thành tựu nghệ thuật cổ điển phải dựa vào tôn giáo để bảo tồn và sáng tạo. Việc sùng bái thần cây đã đem đến tác dụng rất tốt đối với việc bảo vệ rừng, dưới tấm áo khoác mê tín chứa đựng ở bên trong hạt nhân của sự cân bằng sinh thái khoa học, “cái đẹp tôn giáo” này rất cần phải phân tích bảo tồn. Nếu không bảo tồn và phát triển những phân tử của “cái đẹp tuyệt đối” trong phong tục tập quán cũ, nếu không dùng những phong tục tập quán tốt hơn (phong tục tập quán khoa học hoá hơn, nghệ thuật hoá hơn) để thay thế chúng, thì những phong tục tập quán cũ không thể ra khỏi vũ đài lịch sử. Cho nên, muốn thay đổi phong tục tập quán tuyệt đối không thể “trước phá sau lập”, “phá chính là lập”, mà nên và chỉ có thể làm ngược lại – “trước lập sau phá”. Lúc các điều kiện chủ quan và khách quan đều đã được chuẩn bị, phong tục mới tốt đẹp đã lan rộng, liệu có còn chỗ đứng cho phong tục cũ nữa không? Cho nên, điều kiện vật chất để sáng tạo ra phong tục tập quán mới là cơ bản, thay đổi quan niệm thẩm mĩ và tiêu chuẩn thẩm mĩ của quần chúng mới là con đường tất yếu của việc thay đổi phong tục tập quán, như thế xem như đã nắm vững được bản chất của văn hoá dân gian.   


Nguồn: hoidantochoc.org.vn (03/10//06)

Xem Thêm

Tạo thuận lợi hơn cho công tác tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế
Dự thảo Quyết định điều chỉnh, sửa đổi Quyết định 06/2020/QĐ-TTg ngày 21/02/2020 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức, quản lý hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam nhằm giải quyết những vướng mắc trong quy định hiện hành, tăng cường phân cấp và đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Để trí thức khoa học tham gia sâu hơn vào công tác Mặt trận
Hội thảo khoa học tại Hà Nội ngày 6/11/2025 đánh giá thực trạng sự tham gia, phối hợp của Liên hiệp Hội Việt Nam trong các hoạt động chung của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giai đoạn 2015-2025. Các chuyên gia thẳng thắn chỉ ra những thành tựu, hạn chế và đề xuất giải pháp cho giai đoạn tới.
Còn nhiều rào cản trong thực thi bộ tiêu chuẩn ESG
Hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) nói chung và DNVVN nói riêng trên địa bàn Thành phố Hà Nội gặp nhiều rào cản và thách thức trong thực thi tiêu chuẩn môi trường, xã hội và quản trị (ESG).
Đắk Lắk: Góp ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng
Ngày 13/6, Liên hiệp hội tỉnh đã tổ chức góp ý kiến đối với dự thảo kế hoạch tổ chức hội nghị lấy ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng và dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2025 – 2030.
Hà Giang: Góp ý dự thảo sửa đổi Luật Chất lượng sản phẩm
Ngày 13/6, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp hội) tỉnh đã tổ chức hội thảo góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hoá (CLSPHH). Tham dự hội thảo có lãnh đạo đại diện các Sở, ban ngành của tỉnh, các hội thành viên Liên hiệp hộivà các chuyên gia TVPB.
Đắk Lắk: Hội nghị phản biện Dự thảo Nghị quyết về bảo đảm thực hiện dân chủ cơ sở
Sáng ngày 27/5/2025, tại trụ sở Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (Liên hiệp hội) đã diễn ra Hội nghị phản biện và góp ý đối với Dự thảo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh Đắk Lắk về việc quyết định các biện pháp bảo đảm thực hiện dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh.
Phú Thọ: Lấy ý kiến về Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013
Sáng ngày 20/5/2025, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ (Liên hiệp hội) tổ chức hội thảo lấy ý kiến của đội ngũ trí thức, chuyên gia, nhà khoa học về dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.

Tin mới

Thanh Hoá: Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 2026
Ngày 10/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Thanh Hóa (Liên hiệp hội) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành mở rộng lần thứ VII, khoá VII, nhiệm kỳ 2024 - 2029; sơ kết 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026.
Lâm Đồng: Kết nối sức mạnh - Khơi thông nguồn lực phát triển năng lượng tái tạo
Chiều ngày 09/7, tại Đà Lạt, Hiệp hội Điện gió và Mặt trời tỉnh Lâm Đồng (Hội thành viên Liên hiệp Hội) tổ chức Hội nghị thường niên năm 2026 nhằm đánh giá kết quả hoạt động năm 2025 và 6 tháng đầu năm 2026, đồng thời đề ra phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm cho 6 tháng cuối năm.
Liên hiệp Hội tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Trị tăng cường trao đổi kinh nghiệm
Chiều ngày 09/7, Đoàn công tác Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (LHH) tỉnh Quảng Trị do Tiến sĩ Trần Văn Tuân – Chủ tịch Liên hiệp Hội làm Trưởng đoàn đã có buổi thăm, làm việc và trao đổi kinh nghiệm tại LHH tỉnh Hà Tĩnh. Tiếp và làm việc với đoàn có Tiến sĩ Bùi Khắc Bằng – Chủ tịch LHH tỉnh Hà Tĩnh cùng đại diện các ban chuyên môn.
Đắk Lắk: Liên hiệp hội sơ kết công tác 6 tháng đầu năm
Chiều ngày 09/7, Liên hiệp hội tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) nhằm sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và triển khai phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026; đồng thời cho ý kiến đối với các nội dung chuẩn bị Đại hội Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031.
GS.TSKH Nguyễn Đức Cương: Khoa học là một hành trình dài và không phải lúc nào cũng có kết quả ngay
Sinh năm 1945 tại Huế, ông là nhà khoa học hàng đầu về hàng không - vũ trụ của Việt Nam, đã có hơn nửa thế kỷ cống hiến cho ngành khoa học kỹ thuật hàng không vũ trụ. Không chỉ là người đặt nền móng cho các sản phẩm bay tiết kiệm chi phí cho Việt Nam, ông còn là người thầy tâm huyết, truyền cảm hứng và kiến thức cho nhiều thế hệ, góp phần đưa ngành hàng không Việt Nam đạt được những bước tiến mới.
Đắk Lắk: Ứng dụng AI “nghe” độ chín sầu riêng
TS. Lê Minh Tân và CN. Hoàng Ngọc Trung Nguyên (Trường Đại học Tây Nguyên) đã nghiên cứu thành công giải pháp: “Máy phân loại quả sầu riêng theo độ chín sử dụng AI phân tích âm thanh”. Giải pháp này đã đọat giải Nhì Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (2024-2025) khu vực phía Tây.