Bà Rịa – Vũng Tàu: Báo động nguy cơ thiếu nước
Nguồn nước đang suy kiệt
PGS.TS Chủ nhiệm bộ môn Quản lý Môi trường Nguyễn Đình Hòe (người cùng Sở NN&PTNT đang xây dựng chiến lược phát triển bền vững kinh tế xã hội tỉnh đến năm 2015 tầm nhìn 2020) cho biết, số liệu thống kê từ năm 2004 trở lại cho thấy lượng nước bốc hơi luôn cao hơn lượng mưa. Theo thống kê, trong giai đoạn 1978-1985 cũng chỉ rõ BR-VT đã chớm chuyển sang trạng thái bán khô hạn. Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 là mùa thiếu nước, đặc biệt vào 3 tháng đầu năm dương lịch không mưa. Quá trình bán khô hạn ở BR-VT thực ra không chỉ xuất hiện trong vài ba năm trở lại đây mà đã kéo dài từ nhiều năm qua, đủ thời gian cho sự hình thành những cảnh quan bán khô hạn ở nhiều nơi trong tỉnh. Các cảnh quan núi thấp có đá lộ đầu, các trảng cây bụi, cây chịu hạn lá nhỏ hoặc cây có gai xen trảng cỏ phát triển nhiều nơi ở các dải đất dốc huyện Tân Thành và ven biển. Sự hình thành các cảnh quan này phản ánh sự thiếu nước từ lâu của hệ sinh thái.
Các dòng sông cung cấp nước cho tỉnh chủ yếu là những sông nội tỉnh, ngắn và có lưu vực nhỏ. Năng lực của Nhà máy Nước Bà Rịa cung cấp gần 5.000 m3/ngày đêm nhưng nằm sát biển. Nguồn nước dự trữ của tỉnh theo tính toán là 0,95 tỷ m3 nước mặt và 0,0493 tỷ m3 nước ngầm, tính bình quân theo đầu người là 1.049 m3 /người/năm. Khả năng cấp nước cho sinh hoạt và sản xuất vào 2010 chỉ còn khoảng 892,85 m3/người/năm. “Theo tính toán của Tổ chức Nông lương Thế giới (FAO), ngưỡng bắt đầu thiếu nước của một vùng là dưới 4.000 m3/người/năm, ngưỡng cực kỳ thiếu nước là dưới 2.000m3/người /năm thì BR-VT thuộc loại cực kỳ thiếu nước. Nếu tính theo chuẩn cấp nước cho nhu cầu sinh hoạt và sản xuất 2.500 m3/người/năm là bền vững thì khả năng cung cấp của nguồn tài nguyên nước BR-VT chỉ đạt 35,7%. Đây là một trở ngại cần tính đến trong quá trình hoạch định chiến lược phát triển bền vững của tỉnh” - ông Hòe phân tích.
Theo FAO, tùy theo độ dốc của địa hình, lượng nước khai thác bền vững cho nhu cầu của con người là từ 25% đến 40% khả năng nước nội địa, còn lại là để cân bằng sinh thái. Nhưng có một thực tế, hiện nay BR-VT đang sử dụng nước quá mức phục vụ cho nhu cầu kinh tế - xã hội, nhất là công nghiệp tất yếu dẫn đến hệ sinh thái tự nhiên bị tước đoạt nguồn nước. Không những thế, nhiều nơi như khu vực khai thác nước ngầm tập trung quy mô như TX. Bà Rịa, huyện Tân Thành lại nằm sát vùng nước mặn (m>1g/lít) có thể kéo theo sự gia tăng ô nhiễm nguồn nước ngầm, do quy trình khai thác không được kiểm soát chặt chẽ. Nhiễm mặn sẽ gia tăng tại các nguồn nước ngầm ven biển và trên thực tế đã được phát hiện một số nơi, đặc biệt vùng cửa sông Dinh. Những dự báo trên đây nhiều khả năng sẽ trở thành hiện thực vào khoảng năm 2015, nếu quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa đạt được những quy mô đáng kể theo Quy hoạch KT-XH của tỉnh. Hiện nay, 2 dòng sông chính của BR-VT là sông Dinh và sông Ray đã bị ô nhiễm, làm những nguồn cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt ngày càng giảm.
Tiết kiệm nước bằng giải pháp nào ?
Giải pháp đầu tiên là từ con người, người dân cần sử dụng tiết kiệm tránh lãng phí tài nguyên nước. Nhưng quan trọng hàng đầu là phải nhận diện được khả năng thiếu nước, thiếu đến đâu để điều chỉnh lại chiến lược phát triển kinh tế - xã hội theo hướng thay thế các ngành công nghiệp sử dụng quá nhiều nước bằng các ngành công nghệ cao ít có nhu cầu nước. Thay thế dần các giống cây trồng dùng nhiều nước như khoai mỳ, cà phê, lúa… bằng những loại cây trồng năng suất cao nhưng ít đòi hỏi nước. Sở Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn BR-VT đã rất có lý khi nhận định rằng giá lúa không bù lại được giá nước tưới và có kế hoạch giảm các diện tích lúa 1 vụ, cũng như những loại cây trồng ưa nước khác như cà phê, khoai mì… Việc bảo vệ và phát triển vốn rừng cũng rất cần cho việc tăng khả năng trữ nước của lãnh thổ. Vì thế cần xem xét kỹ kế hoạch của tỉnh chuyển 3.343 ha rừng sang các mục đích phi lâm nghiệp, ông Hòe nói.
Bên cạnh đó, kiểm soát chặt chẽ ô nhiễm nước, kể cả nguồn nước mặt và nước ngầm. Các doanh nghiệp sử dụng nước cần áp dụng các kỹ thuật xử lý để tái sử dụng quay vòng tối đa nước thải. Cần định giá đúng giá trị thị trường của tài nguyên nước trong tỉnh để tạo sự hạch toán đúng thực tế hơn cho các doanh nghiệp, nhằm tái đầu tư cho cơ sở hạ tầng, cũng như quản lý nguồn nước.
Để đáp ứng nhu cầu nước ngày càng tăng, giải pháp tất yếu của tỉnh là tăng cường xây dựng thêm nhiều hồ chứa và khai thác nước ngầm, sử dụng tối đa nguồn sinh thủy tại địa phương. Hơn nữa khả năng cung cấp nước nội tỉnh hạn chế, thì nguồn nước duy nhất mà tỉnh có thể trông chờ sau này là phải tính đến chuyện dẫn nước quá cảnh từ hồ Trị An về bằng đường ống đường kính khoảng 1-2m và dài hàng trăm km qua Đồng Nai, nếu không trong tương lai BR-VT sẽ không thể công nghiệp hóa được do thiếu nước.








