Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 23/06/2010 19:13 (GMT+7)

Áp dụng thực hành nông nghiệp (GAP) hướng đi tất yếu trong sản xuất trồng trọt

Người tiêu dùng đang yêu cầu ngày càng cao các sản phẩm trồng trọt phải có chất lượng cao, an toàn vệ sinh thực phẩm. Đây là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển của thị trường sản phẩm trồng trọt ở trong nước và quốc tế; gắn liền với sự phát triển của ngành, thu nhập và đời sống của nông dân.

Kinh nghiệm quốc tế đã khẳng định, để đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm thì phải áp dụng quản lý trên cơ sở phân tích mối nguy hại và kiểm soát điểm giới hạn (HACCP) trong tất cả các khâu của quá trình “từ trang trại đến bàn ăn”. Đối với sản xuất trồng trọt, khâu đầu tiên của chuỗi cung cấp thực phẩm đó là áp dụng Thực hành nông nghiệp (Good Agricultural Pratices GAP),

Với định hướng trên, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành Quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt (Viet GAP) trong sản xuất rau, quả, chè an toàn; ngoài ra Viet GAP cà phê, VietGAP lúa gạo và 1 số cây thủ lực khác cũng đang được xây dựng. Quyết định 107/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách hỗ trợ sản xuất, chế biến, tiêu thụ rau, quả, chè an toàn xác định mục tiêu đến năm 2015 sản phẩm rau, quả, chè tại các vùng tập trung phải được sản xuất theo VietGAP.

Thời gian qua đã có 1 số mô hình sản xuất rau, quả, chè theo Viet GAP hoặc Global GAP được chứng nhận. Tuy nhiên, áp dụng GAP chưa thực sự trở thành phong trào sâu rộng và nhiều tổ chức, cá nhân vẫn chưa nhận thức đầy đủ GAP với vai trò là phương thức sản xuất trồng trọt tiên tiến cần phải áp dụng trong thực tiễn.

1.. Do đặc thù của sản xuất trồng trọt, nên từ khi bắt đầu sản xuất đến khi đưa sản phẩm đi tiêu thụ có nhiều yếu tố có thể dẫn đến sản phẩm bị ô nhiễm bởi hoá chất, kim loại nặng, vi sinh vật hay đất cát, mảnh vỡ thuỷ tinh tới mức vượt quá giới hạn cho phép. Hoá chất độc hại có thể do tồn dư hoá chất xử lý hạt giống, thuốc trừ bệnh, thuốc kích thích sinh trưởng, hoá chất bảo quản do người sản xuất sử dụng. Kim loại nặng có thể bắt nguồn từ đất trồng, phân bón, nước tưới dụng cụ sơ chế, bảo quản. Sản phẩm có thể bị ô nhiễm vi sinh vật từ đất trồng, nước tưới nếu không đáp ứng đủ tiêu chuẩn, hoặc sử dụng phân bón (nhất là phân hữu cơ) không hợp vệ sinh, sản phẩm tiếp xúc với đất, dụng cụ bao gói không hợp vệ sinh. Đất, cát, mảnh vỡ thuỷ tinh, cành que, râu tóc và các vật liệu khác có thể lẫn trong sản phẩm nếu quá trình thu hoạch, sơ chế không đúng quy định hoặc bóng đèn khu sơ chế bị vỡ…

Trên cơ sở phân tích các mối nguy hại như trên và ngưỡng giới hạn cho phép các hoá chất, kim loại nặng, vi sinh vật có hại tồn dư trên sản phẩm trồng trọt mà GlobalGAP, AseanGAP, MalaysiaGAP, Australia GAP (Fresh CARE)…. đã được ban hành nhằm nêu ra các nguyên tắc và hành động đúng mà nhà sản xuất phải áp dụng để loại trừ các mối nguy có thể xảy ra làm ô nhiễm sản phẩm từ khi bắt đầu sản xuất đến khi sản phẩm được đưa ra thị trường. Một số hãng bán lẻ lớn cũng xây dựng tiêu chuẩn GAP riêng (ví dụ MetroGAP đang quy tụ hàng trăm hộ nông dân ở Đà Lạt tham gia).

VietGAP được xây dựng trên cơ sở kế thừa các tiêu chuẩn GAP nói trên và theo các chuyên gia dự án “Xây dựng và kiểm soát chất lượng nông sản thực phẩm” do CIDA tài trợ thì về cơ bản VietGAP tương đương với GlobalGAP, AseanGAP và GAP khác trên thế giới.

2. VietGAP rau, quả có 37 chỉ tiêu loại A (bắt buộc áp dụng), 24 chỉ tiêu loại B (cần áp dụng) và 4 chỉ tiêu loại C (khuyến khích áp dụng); VietGAP chè các chỉ tiêu này tương ứng là 21 – 20 – 24.

Trong thực tế sản xuất, các chỉ tiêu chủa VietGAP được cụ thể hoá thành các điều kiện sản xuất, sơ chế (đất, nước tưới, người lao động, tập huấn, nhà xưởng, nước rửa, dụng cụ thu hoạch, sơ chế, bao gói…); quy trình sản xuất theo VietGAP cụ thể phù hợp cho từng cây trồng (Sử dụng hạt giống, phân bón, thuốc BVTV, nước tưới…). Để có thể truy xét được nguồn gốc sản phẩm, đặc biệt khi sản phẩm không an toàn (ai sản xuất, sản xuất ở đâu, sản phẩm ô nhiễm ở khâu nào, nguyên nhân và biện pháp khắc phục), VietGAP yêu cầu nhà sản xuất phải ghi chép những thông tin cần thiết trong quá trình sản xuất, sơ chế và phân phối sản phẩm.

3. Dựa theo quy trình quốc tế (CODEX) và thực tiễn ở nước ta, ngưỡng giới hạn về hoá chất, kim loại nặng, vi sinh vật có hại đối với sức khoẻ người tiêu dùng, tồn dư trên sản phẩm trồng trọt nói chung và rau, quả, chè nói riêng đã được quy định. Tuy nhiên như phân tích ở trên, sản xuất trồng trọt chủ yếu diễn ra trong điều kiện tự nhiên, chịu nhiều nhân tố tác động nên sản phẩm hôm nay là an toàn nhưng ngày mai có thể trở thành không an toàn nếu quá trình sản xuất, sơ chế không được kiểm soát theo đúng quy trình GAP. Vì vậy, sản phẩm trồng trọt được công bố là an toàn cũng đồng nghĩa với việc nó đã được sản xuất, sơ chế phù hợp với GAP. Nói cách khác, để các sản phẩm trồng trọt áp dụng các yêu cầu ATVSTP không có cách nào khác chúng ta phải sản xuất theo GAP.

4. Đi lên từ một nền sản xuất nhỏ, nên việc áp dụng VietGAP hoặc các GAP khác trong sản xuất trồng trọt ở nước ta chắc chắn là một quá trình khó khăn, cần phấn đấu kiên trì. Trước hết chúng ta ưu tiên áp dụng đối với nhóm cây trồng có nguy cơ ô nhiễm cao, dùng ăn tươi hoặc sản phẩm xuất khẩu chủ lực như rau, quả, chè, cà phê, lúa gạo. Cần quy hoạch và tổ chức lại sản xuất theo mô hình trang trại, doanh nghiệp, hợp tác xã ở các vùng sản xuất tập trung; ưu tiên đầu tư cho những vùng sản xuất hàng hoá lớn. Tiếp tục hoàn thiện Viet GAP, làm sao cho VietGAP cụ thể, gần gũi với người sản xuất thông qua các quy chuẩn kỹ thuật về điều kiện sản xuất, sơ chế và quy trình sản xuất, sơ chế cho từng cây hoặc nhóm cây trên cơ sở các tiến bộ kỹ thuật về giống, phân bón, bảo vệ thực vật, sơ chế bảo quản để có năng suất cây trồng cao hợp lý đồng thời đảm bảo chất lượng, an toàn vệ sinh của sản phẩm. Cần tuyên truyền, tập huấn để người lao động hiểu VietGAP và tự giác áp dụng, coi đó như biểu hiện ý thức trách nhiệm đối với sức khoẻ cộng đòng. Chúng ta cần tạo ra thị trường tiêu thụ và bảo vệ uy tín của các sản phẩm được công bố sản xuất phù hợp VietGAP, tạo niềm tin của người tiêu dùng.

Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Lào Cai: Thúc đẩy tiếp cận tín dụng xanh trong chuỗi giá trị bảo vệ rừng
Ngày 5/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Lào Cai phối hợp với Trung tâm Phát triển Khoa học Công nghệ và Chăm sóc sức khỏe cộng đồng (YENBAI CDSH) tổ chức Hội thảo “Tài chính vi mô, tín dụng xanh và khả năng tiếp cận vốn của các chủ thể kinh tế quy mô nhỏ trong chuỗi giá trị bảo vệ rừng”.
Lâm Đồng: Hội thảo Giải pháp phát triển kinh tế ban đêm đến năm 2030
Sáng 1/10, tại Trung tâm Hành chính tỉnh Lâm Đồng, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với Trường Đại học Kinh tế - Tài chính TP Hồ Chí Minh tổ chức Hội thảo khoa học về phát triển kinh tế ban đêm tỉnh Lâm Đồng. Với sự tham dự của đại diện lãnh đạo UBND tỉnh, lãnh đạo các sở, ban, ngành, địa phương cùng gần 100 chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý và đại diện cộng đồng doanh nghiệp.
Đắk Lắk: Liên hiệp Hội - Thành viên tích cực của Mặt trận trong giai đoạn mới
Là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk phát huy vai trò tập hợp, đoàn kết đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ, làm cầu nối giữa trí thức với Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Trong giai đoạn mới, Liên hiệp Hội tỉnh tăng cường phối hợp, phát huy nguồn lực trí tuệ, góp phần củng cố khối đại đoàn kết và thúc đẩy Đắk Lắk phát triển bền vững.
Đại hội Liên hiệp Hội thành phố Cần Thơ lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031
Trong hai ngày 01 và 02/10/2026, tại thành phố Cần Thơ, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật TP Cần Thơ đã long trọng tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031. ThS. Bùi Minh Châu, nguyên Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Cần Thơ, được bầu giữ chức Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Cần Thơ nhiệm kỳ 2026-2031, Ban Chấp hành gồm 36 thành viên.
Phó Chủ tịch Liên hiệp Hội Việt Nam tham dự Diễn đàn Vi điện tử Toàn Nga 2026
Từ ngày 27/9 đến 3/10, tại Đại học Khoa học - Công nghệ Sirius, Lãnh thổ Liên bang Sirius, Liên bang Nga, đã diễn ra Diễn đàn Vi điện tử Toàn Nga 2026 - một trong những diễn đàn chuyên ngành lớn của Nga về phát triển vi điện tử, cơ sở linh kiện điện tử và các công nghệ điện tử liên quan.
5 nhà khoa học của Liên hiệp Hội Việt Nam được tôn vinh “Nhà khoa học của Nhà nông” năm 2026
Sáng 2/10/2026, tại Hà Nội, Trung ương Hội Nông dân Việt Nam tổ chức Chương trình tôn vinh “Nhà khoa học của Nhà nông” lần thứ VII và trao giải Cuộc thi “Sáng tạo kỹ thuật Nhà nông” toàn quốc lần thứ XI năm 2026. Trong số 42 cá nhân được tôn vinh năm nay có 5 nhà khoa học do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam giới thiệu.
Thanh Hoá: Kinh tế tuần hoàn, tín chỉ Carbon và mô hình sản xuất không phát thải
Ngày 30/9/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Thanh Hóa (Liên hiệp hội) phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ, Trường Đại học Hồng Đức và Viện Nông nghiệp Thanh Hóa tổ chức Diễn đàn khoa học với chủ đề “Kinh tế tuần hoàn và tín chỉ Carbon - Phương pháp xây dựng mô hình sản xuất không phát thải tại Thanh Hóa”.
Đắk Lắk: Phát huy nguồn lực trí thức, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo tỉnh
Trong giai đoạn 2026-2030, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo (ĐMST) là yêu cầu quan trọng để Đắk Lắk khai thác tốt hơn tiềm năng, lợi thế và các nguồn lực cho phát triển. Cùng với KHCN và CĐS, ĐMST cần được nhìn nhận không chỉ là hoạt động của các viện, trường hay doanh nghiệp công nghệ, mà là một phương thức tổ chức nguồn lực để giải quyết những bài toán phát triển cụ thể của địa phương.