Áp dụng thực hành nông nghiệp (GAP) hướng đi tất yếu trong sản xuất trồng trọt
Người tiêu dùng đang yêu cầu ngày càng cao các sản phẩm trồng trọt phải có chất lượng cao, an toàn vệ sinh thực phẩm. Đây là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển của thị trường sản phẩm trồng trọt ở trong nước và quốc tế; gắn liền với sự phát triển của ngành, thu nhập và đời sống của nông dân.
Kinh nghiệm quốc tế đã khẳng định, để đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm thì phải áp dụng quản lý trên cơ sở phân tích mối nguy hại và kiểm soát điểm giới hạn (HACCP) trong tất cả các khâu của quá trình “từ trang trại đến bàn ăn”. Đối với sản xuất trồng trọt, khâu đầu tiên của chuỗi cung cấp thực phẩm đó là áp dụng Thực hành nông nghiệp (Good Agricultural Pratices GAP),
Với định hướng trên, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành Quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt (Viet GAP) trong sản xuất rau, quả, chè an toàn; ngoài ra Viet GAP cà phê, VietGAP lúa gạo và 1 số cây thủ lực khác cũng đang được xây dựng. Quyết định 107/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách hỗ trợ sản xuất, chế biến, tiêu thụ rau, quả, chè an toàn xác định mục tiêu đến năm 2015 sản phẩm rau, quả, chè tại các vùng tập trung phải được sản xuất theo VietGAP.
Thời gian qua đã có 1 số mô hình sản xuất rau, quả, chè theo Viet GAP hoặc Global GAP được chứng nhận. Tuy nhiên, áp dụng GAP chưa thực sự trở thành phong trào sâu rộng và nhiều tổ chức, cá nhân vẫn chưa nhận thức đầy đủ GAP với vai trò là phương thức sản xuất trồng trọt tiên tiến cần phải áp dụng trong thực tiễn.
1.. Do đặc thù của sản xuất trồng trọt, nên từ khi bắt đầu sản xuất đến khi đưa sản phẩm đi tiêu thụ có nhiều yếu tố có thể dẫn đến sản phẩm bị ô nhiễm bởi hoá chất, kim loại nặng, vi sinh vật hay đất cát, mảnh vỡ thuỷ tinh tới mức vượt quá giới hạn cho phép. Hoá chất độc hại có thể do tồn dư hoá chất xử lý hạt giống, thuốc trừ bệnh, thuốc kích thích sinh trưởng, hoá chất bảo quản do người sản xuất sử dụng. Kim loại nặng có thể bắt nguồn từ đất trồng, phân bón, nước tưới dụng cụ sơ chế, bảo quản. Sản phẩm có thể bị ô nhiễm vi sinh vật từ đất trồng, nước tưới nếu không đáp ứng đủ tiêu chuẩn, hoặc sử dụng phân bón (nhất là phân hữu cơ) không hợp vệ sinh, sản phẩm tiếp xúc với đất, dụng cụ bao gói không hợp vệ sinh. Đất, cát, mảnh vỡ thuỷ tinh, cành que, râu tóc và các vật liệu khác có thể lẫn trong sản phẩm nếu quá trình thu hoạch, sơ chế không đúng quy định hoặc bóng đèn khu sơ chế bị vỡ…
Trên cơ sở phân tích các mối nguy hại như trên và ngưỡng giới hạn cho phép các hoá chất, kim loại nặng, vi sinh vật có hại tồn dư trên sản phẩm trồng trọt mà GlobalGAP, AseanGAP, MalaysiaGAP, Australia GAP (Fresh CARE)…. đã được ban hành nhằm nêu ra các nguyên tắc và hành động đúng mà nhà sản xuất phải áp dụng để loại trừ các mối nguy có thể xảy ra làm ô nhiễm sản phẩm từ khi bắt đầu sản xuất đến khi sản phẩm được đưa ra thị trường. Một số hãng bán lẻ lớn cũng xây dựng tiêu chuẩn GAP riêng (ví dụ MetroGAP đang quy tụ hàng trăm hộ nông dân ở Đà Lạt tham gia).
VietGAP được xây dựng trên cơ sở kế thừa các tiêu chuẩn GAP nói trên và theo các chuyên gia dự án “Xây dựng và kiểm soát chất lượng nông sản thực phẩm” do CIDA tài trợ thì về cơ bản VietGAP tương đương với GlobalGAP, AseanGAP và GAP khác trên thế giới.
2. VietGAP rau, quả có 37 chỉ tiêu loại A (bắt buộc áp dụng), 24 chỉ tiêu loại B (cần áp dụng) và 4 chỉ tiêu loại C (khuyến khích áp dụng); VietGAP chè các chỉ tiêu này tương ứng là 21 – 20 – 24.
Trong thực tế sản xuất, các chỉ tiêu chủa VietGAP được cụ thể hoá thành các điều kiện sản xuất, sơ chế (đất, nước tưới, người lao động, tập huấn, nhà xưởng, nước rửa, dụng cụ thu hoạch, sơ chế, bao gói…); quy trình sản xuất theo VietGAP cụ thể phù hợp cho từng cây trồng (Sử dụng hạt giống, phân bón, thuốc BVTV, nước tưới…). Để có thể truy xét được nguồn gốc sản phẩm, đặc biệt khi sản phẩm không an toàn (ai sản xuất, sản xuất ở đâu, sản phẩm ô nhiễm ở khâu nào, nguyên nhân và biện pháp khắc phục), VietGAP yêu cầu nhà sản xuất phải ghi chép những thông tin cần thiết trong quá trình sản xuất, sơ chế và phân phối sản phẩm.
3. Dựa theo quy trình quốc tế (CODEX) và thực tiễn ở nước ta, ngưỡng giới hạn về hoá chất, kim loại nặng, vi sinh vật có hại đối với sức khoẻ người tiêu dùng, tồn dư trên sản phẩm trồng trọt nói chung và rau, quả, chè nói riêng đã được quy định. Tuy nhiên như phân tích ở trên, sản xuất trồng trọt chủ yếu diễn ra trong điều kiện tự nhiên, chịu nhiều nhân tố tác động nên sản phẩm hôm nay là an toàn nhưng ngày mai có thể trở thành không an toàn nếu quá trình sản xuất, sơ chế không được kiểm soát theo đúng quy trình GAP. Vì vậy, sản phẩm trồng trọt được công bố là an toàn cũng đồng nghĩa với việc nó đã được sản xuất, sơ chế phù hợp với GAP. Nói cách khác, để các sản phẩm trồng trọt áp dụng các yêu cầu ATVSTP không có cách nào khác chúng ta phải sản xuất theo GAP.
4. Đi lên từ một nền sản xuất nhỏ, nên việc áp dụng VietGAP hoặc các GAP khác trong sản xuất trồng trọt ở nước ta chắc chắn là một quá trình khó khăn, cần phấn đấu kiên trì. Trước hết chúng ta ưu tiên áp dụng đối với nhóm cây trồng có nguy cơ ô nhiễm cao, dùng ăn tươi hoặc sản phẩm xuất khẩu chủ lực như rau, quả, chè, cà phê, lúa gạo. Cần quy hoạch và tổ chức lại sản xuất theo mô hình trang trại, doanh nghiệp, hợp tác xã ở các vùng sản xuất tập trung; ưu tiên đầu tư cho những vùng sản xuất hàng hoá lớn. Tiếp tục hoàn thiện Viet GAP, làm sao cho VietGAP cụ thể, gần gũi với người sản xuất thông qua các quy chuẩn kỹ thuật về điều kiện sản xuất, sơ chế và quy trình sản xuất, sơ chế cho từng cây hoặc nhóm cây trên cơ sở các tiến bộ kỹ thuật về giống, phân bón, bảo vệ thực vật, sơ chế bảo quản để có năng suất cây trồng cao hợp lý đồng thời đảm bảo chất lượng, an toàn vệ sinh của sản phẩm. Cần tuyên truyền, tập huấn để người lao động hiểu VietGAP và tự giác áp dụng, coi đó như biểu hiện ý thức trách nhiệm đối với sức khoẻ cộng đòng. Chúng ta cần tạo ra thị trường tiêu thụ và bảo vệ uy tín của các sản phẩm được công bố sản xuất phù hợp VietGAP, tạo niềm tin của người tiêu dùng.








