Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 10/12/2007 23:43 (GMT+7)

Ánh phản chiếu của lịch sử & “thương hiệu Việt Nam”

Một giải pháp Việt Namphải là một giải pháp cho Việt Nam, chỉ của Việt Nam chứ không thể của ai khác, nếu không thế thì không phải là giải pháp. Giải pháp Việt Nam phải thể hiện được sự thông tuệ của con người Việt Nam trong việc phát huy truyền thống dân tộc, bản sắc văn hóa và tinh hoa của thời đại được vận dụng một cách có hiệu quả và sáng tạo vào điều kiện Việt Nam.

Đó là điều kiện thiên nhiên miền nhiệt đới gió mùa nhìn thẳng ra biển Đông, đó là điều kiện của một bán đảo nằm giữa ngã ba giao lưu quốc tế nối liền Ấn Độ Dương với Thái Bình Dương đòi hỏi và rèn luyện cho con người Việt Nam bản lĩnh “có cứng mới đứng được đầu gió”. Mà là gió đại dương, vừa hiền hòa vừa hung dữ từ biển tràn đến hòa cùng cái gió “lục địa” không mấy dễ chịu của một vùng lãnh thổ nằm trong thế kẹt địa - chính trị, khiến cho đứa trẻ còn nằm trong nôi đã phải nghe tiếng vó ngựa ngoại xâm. Cái thế kẹt ấy buộc cậu bé làng Gióng phải lớn vụt lên để kịp đánh giặc cứu làng, cứu nước. Xét đến cùng, đó chính là bản lĩnh văn hóa, mà nếu không có nó, sẽ không thể có non sông đất nước liền một dải của ngày hôm nay.

Bản lĩnh của một dân tộc “vốn xưng văn hiến đã lâu” in đậm trên hành xử của dân tộc ấy trong suốt chiều dài tồn tại và phát triển của đất nước này. Phải bằng cái chiều sâu và sức nặng văn hóa đó mà đến với thế giới. Liệu có phải cái bản lĩnh văn hóa của truyền thống dân tộc ấy chính là cái “logo” nổi bật của “thương hiệu Việt Nam” khi đất nước dấn bước vào tiến trình hội nhập? Bản lĩnh văn hóa ấy không hề trừu tượng, mà nó thấm đẫm trong đời sống Việt Nam . Những tâm hồn Việt Nam không lai căng mất gốc đều có thể cảm nhận được.

Thì đây kia, những “lốt chân ngựa Thánh Gióng” vẫn còn nguyên trên cánh đồng vùng Quế Võ, Bắc Ninh. Mà đâu chỉ có lốt chân ngựa Thánh Gióng. Vẫn sừng sững 99 ngọn đồi, cộng thêm một để chẵn trăm, nơi vùng đất thiêng Đền Hùng Phú Thọ. Ở đấy, lời răn dạy, nhắn nhủ của ông cha đã được tạc vào thế núi. Đó là hình ảnh một ngọn đồi, tương truyền là con voi bị chặt đầu vì tội lìa đàn, đổi hướng. “Voi phản bội” phải đứng tách khỏi hẳn với 99 ngọn đồi, tương truyền là những “voi chung thủy”. Lời cảnh báo thật là dữ dội. Trên từng ngọn núi, khúc sông, trong những ngôi đền cổ, dưới những ngôi chùa làng, những mái tranh nghèo đều ấp ủ những lời nhắn gửi của cha ông được ký thác vào trong những tranh tượng thờ, những bia ký, những hòanh phi, câu đối, những đường nét chạm trổ hoa văn.

Đấy chính là văn hóa, là chiều sâu văn hóa mà âm mưu thâm hiểm, độc địa nhằm tiêu diệt văn hóa không thể thực hiện, cho dù “phàm An Nam có tất thảy các sách vở gì, kể cả câu lý dân gian, các sách dạy trẻ, và tất cả các bia mà xứ ấy dựng lên, thì một mảnh, một chữ hễ trông thấy là phá hủy lập tức, chớ để sót lại” theo chiếu chỉ của Minh Thành tổ gửi cho viên tướng viễn chinh Chu Năng ngày 16 - 5 - 1407! Truyền thuyết “Thánh Gióng” chính là khát vọng sống của một dân tộc không chịu khuất phục, quyết chống trả lại sức ép thường trực từ bên ngòai. Khát vọng ấy hun đúc nên bản lĩnh văn hóa Việt Nam . Tạo dựng nên nền văn hóa Việt Nam . Tạo dựng nên nền văn hóa của mình, con người Việt Nam lại tựa chính vào sức mạnh văn hóa ấy mà đi tới. “Con người nhìn ngắm bản thân mình trong sản phẩm do mình tạo ra”, ý tưởng đó của C. Mác giúp ta nhận thức về chiều sâu và sức nặng của văn hóa Việt Nam, hành trang đáng kể nhất và quyết định nhất của con người Việt Nam trên con đường hội nhập. Để mất văn hóa cũng có nghĩa là mất tất cả, cho dù có được về kinh tế, thì rồi sự phát triển ấy cũng chẳng bền.

Vậy thì ta đang và nên lựa chọn cái gì? Lựa chọn “thương hiệu” hay lựa chọn giải pháp phát triển? Con thuyền đất nước đã vượt qua quãng nước lợ pha vị mặn ở đầu sông, khởi đầu một vòng lượn ngoạn mục ở khúc quanh của dòng chảy hướng ra biển với sự kiện Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO. Nhân bàn về sự kiện gia nhập WTO như một bước ngoặt lớn của lịch sử, giáo sư sử học Phan Huy Lê cho rằng: “đây là thời cơ lớn cho chúng ta, nói là phục hưng cũng đúng. Nhưng sự phục hưng này diễn ra trong bối cảnh toàn cầu hoá sẽ rộng hơn phục hưng của nước Ý trước đây”. Chính vì thế ông đã phân tích về ý nghĩa của “sự kiện WTO” như là một cột mốc của “sự thay đổi cá tính dân tộc”. Cá tính lại là vấn đề văn hoá, là sự chọn lựa văn hoá. Vì thế, nhà văn Nguyên Ngọc lưu ý rằng: “trước hết không phải là chuyện kinh tế mà là chuyện văn hoá, một chuyển động về văn hoá và tư tưởng, có khi sâu sắc nhất xưa nay, một thay đổi trong tâm lý dân tộc, tâm lý “sợ biển”.

Bao đời đứng trước biển, mà sao cái “tâm thế lục địa” vẫn lấn át “cảm hứng đại dương”. Đã đành dựa vào sự cấu tạo hình thể của thế liên hoàn núi sông để nước là một sự ràng buộc khách quan của lịch sử. Song ra đến mép nước của Thái Bình Dương mà vẫn không có được cái can trường xông pha, sóng nước, không có những đội thương thuyền vượt đại dưuơng thì quả là “có vấn đề”.

Càng ngẫm nghĩ càng thấy vấn đề ấy lớn thật, khi mà con thuyền đất nước đã đang giương buồm thời đại, đón gió đại dương, vượt lên sóng cả, hướng tới một chân trời đang mở rộng. Có chuyện chi đây trong tâm thức của người Việt Nam chúng ta? Tại sao đã dám khẳng định “có cứng mới đứng đầu gió”, và cũng đã mấy nghìn năm “đứng đầu gió” như vậy, nhưng lại bị cái khung tư duy “ao nhà” thít chặt đầu óc, không dám mở cửa, không dám vươn xa sợ “say sóng”, đành tự nhốt mình trong bảo thủ và ươn hèn, “ta về ta tắm ao ta, dù trong dù đục ao nhà đã quen”. Cái “đã quen” này đã dìm chết mọi khát vọng, dập tắt mọi tìm tòi sáng tạo, bỏ lỡ bao thời cơ để đưa đất nước bứt lên. Khi thời cơ đến thì không dám táo bạo nắm lấy bởi thái độ dùng dằng kiểu “quân tử Tầu”, “đi thì cũng dở, ở không xong”, nên đành lựa một cách thế nửa vời “bước đi một bước, giây giây lại dừng” trong tiến trình đổi mới nơi này, nơi khác, để rồi phải đứng vào vị trí áp chót trong cuộc chạy đua khu vực toàn cầu hôm nay. Thế mà ngẫm nghĩ kỹ, đâu có phải chỉ bây giờ mới biết vươn ra biển. Ông cha ta đã từng có những lựa chọn chiến lược tầm cỡ, từng có những “giải pháp Việt Nam”, có vậy mới có non sông liền một dải hôm nay.

Hãy chỉ nói đến hai chọn lựa cực kỳ thông minh, đẩy tới những bước ngoặt trong lịch sử dân tộc. Sự chọn lựa lần thứ nhất, đầu thiên niên kỷ thứ hai, nghĩ kỹ, đấy chính là một giải pháp Việt Nam, giải pháp cho Việt Nam lúc ấy. Đấy là lúc mà ông cha ta dám từ bỏ cái gốc văn hoá Đông Nam Á, tuy uyển chuyển và mềm dẻo, song phân tán, không đủ mạnh để chống trả sự bành trướng của thế lực Hán hoá. Vì thế, phải dám tiếp nhận nền “văn hoá Hán hoá” đó, nhằm tạo một nhà nước mạnh khả dĩ có thể chống chọi với hoạ xâm lược đến từ một nước khổng lồ của chính nền văn hoá Hán đó.

Sự lựa chọn thứ hai: chọn lựa Nam tiến, khởi đầu từ Nguyễn Hoàng vào giữa thiên niên kỷ sau, một giải pháp Việt Nam tuyệt vời, mà nếu không có, sẽ không có Việt Nam ngày nay. Đó là chọn lựa “phi Hán hoá”, trở về cái “gốc Nam” của mình, phát huy sáng tạo gợi ý của Nguyễn Bỉnh Khiêm “Hoàng Sơn nhất đái, vạn đại dung thân”, xuôi về phương Nam mở nước. Đây là cách “vừa cứng theo lối Hán, vừa mềm theo lối Việt, nhằm tạo nên một sức mạnh uyển chuyển rất độc đáo và hiệu quả, một lực gia tốc phát triển kỳ lạ. Lùi xa “cương vực” về phía nam, từ đèo Hải Vân đến Hà Tiên, hình thành một quốc gia lớn mạnh nhờ thoát ra khỏi cái xiềng “nông vi bản”, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, phát triển nghề buôn, chú ý đến ngoại thương.

Là giải pháp chiến lược thể hiện một quyết tâm chính trị, một bản lĩnh văn hoá. Bởi vì, theo giáo sư Cao Huy Thuần, Đại học Pháp, nguyên Giám đốc Trung tâm nghiên cứu về Cộng đồng Âu châu tại Đại học Picardi, thì “ Học gì ở người xưa trong vị thế giữa đất và biển? Mãi mãi lệ thuộc vào “vùng ảnh hưởng” của đất? Hay nhắm biển, Nam tiến để mở rộng tự do? Nam tiến là gì? Nếu không phải là dời xa vùng ảnh hưởng? Nếu không phải là kéo dài lục địa để tiến về phía biển, tiến sâu vào châu Á hải đảo. “Vạn đại dung thân” là gì, nếu không phải là thấy chiến lược bừng sáng trong đầu về một chân trời mới mở rộng ra trước mắt, không phải cho một đời Nguyễn Hoàng, mà cho ngàn ngàn đời một dân tộc thường xuyên đi tìm lối thoát khỏi một vị thế địa dư trứng nằm dưới đá?

Cái đầu óc mới đó về chiến lược trường kỳ, chính là cái ngày hôm nay chúng ta phải tiếp thu. Bờ cõi đã giải quyết xong, dân cư đã ổn định… Phải có một dãy Hoàng Sơn trong cái đầu để luôn luôn nhắn nhủ rằng hãy bắt chước cách Nguyễn Hoàng lưu luyến nhà Lê để lưu luyến thành khẩn như vậy với “vùng ảnh hưởng” đã cắt đứt trong đầu. Lưu luyến trong khôn khéo ngoại giao, cắt đứt trong tư tưởng”. Và ông kết luận “ Nam tiến, chính là phải dẹp bỏ cái thế bị động thường xuyên để quan hệ ưu tiên không đưa đến thường xuyên nhượng bộ. Không có cách nào tránh khỏi nhượng bộ nếu ta không chủ động đi trước… Namtiến ngày nay là Nam tiến trong đầu óc. Trong tư duy”. (*).

Học bài học của ông cha, hiểu ra được rằng, bất kỳ tình huống nào, thậm chí có khi tưởng như bế tắc, song nếu có một bản lĩnh dám nghĩ dám hành động, thì vẫn tìm ra được lối thoát, đúng hơn, tìm ra giải pháp. Đó là bài học về lựa chọn cách phát triển, tìm ra con đường phát triển của Việt Nam, giải pháp Việt Nam .

Đó là giải pháp của Khúc Hạo thực hiện một cuộc cải cách về nhiều mặt nhằm xây dựng một quốc gia độc lập, tự chủ, thoát dần ảnh hưởng và sự khống chế của các thế lực thống trị phương Bắc, “chính sự cốt chuộng khoan dung giản dị”. Đó là giải pháp Lý Thường Kiệt mà Việt Điện U Linh tậpghi: “ngồi yên đợi giặc không bằng đem quân ra trước để chặn mũi nhọn của giặc”, từ trận tập lích Ung Châu kết thúc sau 42 ngày bẻ gãy ý chí xâm lược, đẩy kẻ thù vào thế bị động cho đến chiến thắng Như Nguyệt hai năm sau, năm 1077, đè bẹp hoàn toàn ý chí xâm lược ấy, Lý Thường Kiệt đưa ra đề nghị giảng hoà. “Văn bia chùa Linh Xứng” của sư Pháp Bảo đời Lý đã chép: “dùng biện sĩ bàn hoà, không nhọc tướng tá, khỏi tốn xương máu mà bảo toàn được tôn miếu”. Cách “vừa đánh vừa đàm” ấy đã đưa đến bản “Tuyên ngôn Độc lập” lần thứ nhất vào thế kỷ XI với bài thơ “thần” Namquốc Sơn hà.

Đó cũng là giải pháp Trần Hưng Đạo và các vua Trần với hào khí Đông A ngút trời nhưng lại ba lần bỏ ngỏ Thăng Long nhằm tránh đương đầu với thế mạnh của địch để tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân, uyển chuyển và linh hoạt, tập trung lực lượng chọn đúng những mũi tiến công chiến lược để cuối cùng ba lần năm 1258, năm 1285, năm 1288 đánh tan những đạo quân xâm lược của một đế chế từng kiểm soát một vùng lãnh thổ rộng lớn trải dài từ bờ Thái Bình Dương đến bên kia Hắc Hải chưa hề có trong lịch sử thế giới. Với đòn tiến công chiến lược trên sông Bạch Đằng của Trần Hưng Đạo ngày 9 tháng 3 năm 1288 để kết thúc cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên - Mông dường như lặp lại trận quyết chiến chiến lược trên sông Như Nguyệt của Lý Thường Kiệt mùa xuân 1077 đập tan quân xâm lược nhà Tống. Cùng một ý chí và bản lĩnh, song sự vận dụng và cách triển khai thì công và thủ đều có những nét uyển chuyển rất khác nhau tuỳ theo điều kiện cụ thể của thế và lực. Chính đó là sự hình thành một cách sáng tạo giải pháp Việt Nam .

Nếu kể đến giải pháp Việt Nam thời Lê Lợi, Nguyễn Trãi, thời Quang Trung Nguyễn Huệ cho đến giải pháp Việt Nam trong các cuộc chiến tranh giữ nước, chống lại mọi thế lực ngoại xâm trong thế kỷ XX của thời đại Hồ Chí Minh sẽ càng thấy nổi rõ lên điều đó.

Hãy chỉ nói riêng một cách ứng xử làm sao vừa thực hiện được tính độc lập và sáng tạo trong quyết tâm chính trị giải phóng hoàn toàn đất nước, thống nhất tổ quốc lại vừa dàn xếp được những bất đồng, tranh thủ sự ủng hộ to lớn của các nước anh em, tuy vẫn có những toan tính không hoàn toàn trùng khớp với mục tiêu của dân tộc đang đổ máu vì mục tiêu đó. Không có một đường lối chính trị vừa kiên định vừa mềm dẻo uyển chuyển ngay với các nước anh em đang là chỗ dựa trong chiến đấu của mình, không thể có được sự kết thúc trọn vẹn sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc. Đó chính là một biểu hiện sinh động của một giải pháp Việt Nam tuyệt vời trong thế kỷ XX.

Đã có một thời, những tấm lòng bạn bè đã chân thành gọi Việt Nam là “lương tâm của thời đại”. Đây không chỉ là trạng huống thăng hoa của cảm xúc, mà là sự phát hiện ra và tự củng cố cho chính họ một giá trị mà thời đại của chủ nghĩa thực dân mới và chiến tranh lạnh đã xoá nhoà.

Hình như giờ đây ai đó cũng có tâm lý e ngại không muốn nhắc đến hình ảnh đầy biểu cảm ấy vì thấy “ngường ngượng” thế nào! Cũng chẳng hiểu vì sao lại “ngượng”? Hay là “ngượng” vì chúng ta đã để mất cái từng là một “thương hiệu” vô giá, “thương hiệu” đó không phải do chúng ta đi tìm, nhưng là do thế giới tìm hộ và tặng cho ta. Mà họ “làm hộ” điều ấy, vì họ hiểu được xương máu của dân tộc ta đã đổ ra để đấu tranh bảo vệ một chân lý mang tính vĩnh cửu của con người, của mọi đất nước, của mọi dân tộc: mỗi dân tộc đều có quyền được sống trên đất nước của mình, và cần phải đánh trả những thế lực ngoại xâm bất kể chúng đến từ đâu để bảo vệ Tổ quốc mình, thực hiện “những quyền không ai có thể xâm phạm được” do “tạo hoá” ban cho họ!

Việt Nam chúng ta đã từng được thế giới biết đến như một dân tộc biết “đem đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân mà thay cường bạo”, dám “lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh” để vì thế mà đánh tan mọi thế lực ngoại xâm. Đó là lịch sử, không hề là một huyễn tưởng. Một sự thật hai năm rõ mười, không chỉ diễn ra đột xuất, ngẫu nhiên một lần, mà chí ít cũng là bốn lần ở các thế kỷ XII, XV, XVII và XX. Đấy là chưa nói đến dân tộc ấy đã từng bị nhấn chìm trong đêm dài trung cổ của cách Bắc thuộc tàn bạo cố sức đồng hoá để tiêu diệt tận gốc ý chí đề kháng, song dân tộc ấy vẫn vùng dậy đòi quyền độc lập và tự chủ với cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng.

Không ngạo mạn một cách vô lối, song phải dám nói rằng, không phải dân tộc nào trên trái đất cũng có một lịch sử như thế để cho thế giới biết đến. Thì mới đây thôi, Philip Kotler, “huyền thoại marketing thế giới” vừa đến Việt Nam đã nói lên điều ấy: “Có nhữgn đất nước mà người ta chẳng biết gì ngoài cái tên, và cả cái tên cũng lạ hoắc. Còn với Việt Nam, một đất nước cũng xa xôi, nhưng tôi đã nghe về các bạn qua lịch sử, văn hoá lâu đời, những cuộc chiến tranh oanh liệt, và đặc biệt, là hình ảnh về một đất nước đang cất cánh”.

Gợi lại quá khứ để có thêm nghị lực và lòng dũng cảm dám nhìn thẳng vào sự thật, phân tích rõ nguyên nhân nào khiến chúng ta từ đỉnh cao của thắng lợi tụt xuống là vận động viên chạy áp chót trong cuộc đua toàn cầu vì tình trạng lạc hậu của nền kinh tế. Dựa vào lịch sử, bằng bản lĩnh dân tộc, đem hết sức mình phấn đấu tìm lại một “thương hiệu” đã từng có, đã bị phôi pha.

Liệu những ánh phản chiếu của lịch sử qua những “giải pháp Việt Nam” đã gợi ra ở trên có giúp làm rõ gì thêm cho việc đi tìm “Thương hiệu Việt Nam ” hôm nay không?

* Cao Huy Thuần, Thế giới quanh ta Nxb Đà Nẵng, 2006, tr 355, 356.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Thủ tướng Lê Minh Hưng lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Philippines
Nhận lời mời của Tổng thống nước Cộng hòa Philippines Ferdinand Romualdez Marcos Jr, Chủ tịch ASEAN năm 2026, ngày 7/5, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Minh Hưng dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Cebu, Philippines từ ngày 7 đến 8/5/2026.
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.