Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 10/06/2008 23:27 (GMT+7)

Ảnh hưởng của một số yếu tố môi trường đến sản lượng sữa chu kỳ của bò holstein friesian nuôi ở miền Bắc Việt Nam

1. Mở đầu

Ngành chăn nuôi bò sữa hiện nay đang có xu hướng phát triển ở miền Bắc Việt Nam .

Trong chăn nuôi bò sữa, có nhiều yếu tố tác động đến năng suất (NS) sữa, song quyết định nhất là bản chất di truyền, chế độ dinh dưỡng và chăm sóc quản lý. NS sữa là tình trạng số lượng do phối hợp kiểu gen bên trong cơ thể và tác động của các yếu tố môi trường (MT). Muốn nâng cao NS sữa, cần cải tạo yếu tố di truyền (bằng chọn lọc và nhân giống các cá thể có kiểu gen tốt) và đồng thời cải tạo các yếu tố MT để tác động thích hợp lên kiểu gen đó. Do vậy, bên cạnh chọn lọc, xác định các cá thể có tổ hợp gen cho NS sữa tốt, vấn đề đánh giá đúng mức vai trò, xu thế tác động của các yếu tố MT để có thể khắc phục các ảnh hưởng trên để đàn bò sữa có NS sữa cao là điều cần nghiên cứu.

Để tạo thuận lợi cho việc định hướng phát triển giống bò Holstein Friesian (HF) ở miền Bắc làm tiền đề cải tạo giống, làm nền tảng cho việc đánh giá mức độ cải tiến tiềm năng di truyền về NS sữa, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi bò sữa, chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố MT đến sản lượng sữa chu kỳ 305 ngày của đàn bò HF nuôi ở miền Bắc Việt Nam” nhằm xác định trung bình sản lượng (SL) sữa 305 ngày của 8 lứa sữa đầu ở đàn bò HF, xác định mức độ ảnh hưởng của một số yếu tố MT đến SL sữa giúp công tác xác định các tham số di truyền, giá trị giống và xây dựng kế hoạch chăn nuôi bò HF thích hợp ở miền Bắc nước ta.

2. Phương pháp

2.1 Vật liệu

Bò HF nuôi ở miền Bắc Việt Nam , đẻ bê từ 1990 đến 2007.

2.2 Nội dung nghiên cứu

- Xác định SL sữa chu kỳ 305 ngày (không hiệu chỉnh) từ lứa 1 đến lứa đẻ 8.

- Xác định các yếu tố tuổi đẻ các lứa, khu vực chăn nuôi,nguồn bố, nguồn mẹ, nguồn gia súc, mùa đẻ.

2.3 Địa điểm nghiên cứu

- Công ty cổ phần giống bò sữa Mộc Châu, Mộc Châu - Sơn La.

- Trung tâm phát triển bò Yên Sơn, Yên Sơn - Tuyên Quang.

- Trung tâm nghiên cứu bò và đồng cỏ Ba Vì, Ba Vì - Hà Tây.

- Công ty TNHH nhà nước một thành viên giống gia súc Hà Nội.

2.4 Phương pháp nghiên cứu

a, Thu thập số liệu

Thu thập số liệu về ngày sinh, ngày đẻ của bò từ lứa 1 đến lứa 8, khu vực chăn nuôi, SL sữa thực tế 305 ngày (nếu quá 305 ngày thì chỉ tính đến này 305; nếu chu kỳ sữa ngắn hơn 180 ngày thì không dùng).

b, Xử lý số liệu

Kiểm tra mức độ phân bố chuẩn trước khi tính toán tham số thống kê. Phân tích mức độ ảnh hưởng của các nhân tố sử dụng Proc GLM trong chương trình SAS (1999) với mô hình toán học như sau:

Y ijklmnop= TD + KV i+ NM kc+ NGS i+ L m+ M­ n+ GĐ o+ e ijklmnop

Trong đó:

Y: SL sữa của bò từ lứa 1 đến lứa 8.

TD: tuổi đẻ của các lứa sữa (ảnh hưởng theo dạng Covariate, hồi quy tuyến tính bậc 1).

KV: Ảnh hưởng cố định của nguồn bố thứ i, i = 3 (Hà Nội - Hà Tây, Mộc Châu, Tuyên Quang)

NB: Ảnh hưởng cố định của nguồn bố thứ j, j = 5 (Châu Á, Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Úc, Việt Nam ).

NM: Ảnh hưởng cố định của nguồn mẹ thứ k, k = 3 (Châu Mỹ, Châu Úc, Việt Nam ).

NGS: Ảnh hưởng của nguồn gia súc thứ l, l = 3 (Châu Mỹ, Châu Úc, Việt Nam ).

M: Ảnh hưởng cố định của mùa đẻ thứ m, m = 2 (Đông - Xuân: tháng 1 - 3 và 10 - 12; Hè - Thu: tháng 4 - 9).

GĐ: Ảnh hưởng cố định của giai đoạn đẻ thứ o, o = 3 (GĐ 1: 1992 - 1997, GĐ 2: 1998 - 2001, GĐ 3: 2002 - 2007).

E: Sai số ngẫu nhiên với giả thiết N (0, s2e).

3. Kết quả

3.1 Mức độ ảnh hưởng của một số yếu tố đến sản lượng sữa bò của Holstein Friesian nuôi tại miền Bắc Việt Nam

Bảng 1. Phân tích phương sai về mức độ ảnh hưởng của một số yếu tố đến các tính trạng sản lượng sữa.
Bảng 1. Phân tích phương sai về mức độ ảnh hưởng của một số yếu tố đến các tính trạng sản lượng sữa.
Kết quả phân tích các yếu tố trong mô hình có hệ số xác định (R 2) là 0,24 cho biết tính trạng SL sữa bị ảnh hưởng bởi các yếu tố khu vực chăn nuôi, nguồn bố, nguồn mẹ, nguồn giasúc, mùa vụ, giai đoạn đẻ và lứa đẻ với mức xác suất cao (P < 0,001), ngoại trừ tuổi đẻ (P > 0,05). Từ kết quả này cho thấy có thể tìm được vùng chăn nuôi thích hợp, nguồn giống tốt để đưa tiếnbộ của ngành chăn nuôi bò sữa ngày một cao hơn.

3.2 Sản lượng sữa các lứa đẻ của bò Holstien Friensian nuôi tại miền Bắc Việt Nam theo các yếu tố nghiên cứu

a. Sản lượng sữa các lứa tuổi của bò Holstien Friesian theo các khu vực

Bò nuôi ở Mộc Châu có NS cao nhất, đạt 4967, 26 kg/con/lứa, cao hơn có ý nghĩa so với bò nuôi ở Tuyên Quang (4588,00 kg/con/lứa) và ở Hà Nội - Hà Tây (P > 0,05). Rõ ràng, Mộc Châu là cơ sở đã nhiều năm có kinh nghiệm nuôi bò sữa, đội ngũ cán bộ quản lý và người chăn nuôi có kiến thức tốt, quy chế của công ty phù hợp đã khuyến khích người chăn nuôi quan tâm đến đàn bò. Mặc khác, MT sinh thái và điều kiện tự nhiên của Mộc Châu rất phù hợp cho chăn nuôi bò sữa HF thuần.

b. Sản lượng sữa các lứa của bò HF theo nguồn bố

Nhóm con cái có nguồn bố châu Âu cho NS cao nhất(4729,31 kg/con/lứa), sau đó là châu Mỹ (4542,09 kg/con/lứa), châu Á (4504,94 kg/con/lứa, châu Úc (4442,39 kg/con.lứa) và thấp nhất là nhóm Việt Nam (4350,13 kg/con/lứa). NS sữa nhóm con gái có nguồn bố châu Âu cao hơn có ý nghĩa so với tất cả các nhóm khác (P < 0,05). Từ kết quả nghiên cứu này cho thấy đực giống ngoại nhập tốt hơn nguồn đực giống trong nước. Khi nhập đực giống HF, nên ưu tiên hai nguồn chính là châu Âu và châu Mỹ.

c. Sản lượng sữa các lứa của bò HF theo nguồn mẹ

Bảng 2. Sản lượng sữa chu kỳ các lứa sữa từ 1 đến 8 của bò Holstein Friesian nuôi ở miền Bắc Việt Nam.
Bảng 2. Sản lượng sữa chu kỳ các lứa sữa từ 1 đến 8 của bò Holstein Friesian nuôi ở miền Bắc Việt Nam.
Kết quả thể hiện ở Bảng 2 cho biết SL sữa của nhóm bò HF nguồn gốc mẹ Hoa Kỳ cao nhất (4731,65 kg/con/lứa), cao hơn tuy không có ý nghĩa rõ rệt (P > 0,05) so với mẹ nguồn gốc Việt Nam(4567,36 kg/con/lứa), song rõ rệt (P < 0,05) so với nhóm bò cái có mẹ nguồn gốc châu Úc (4242,31 kg/con/lứa). Từ kết quả nghiên cứu này cho thấy các bò cái sinh ra từ các bò mẹ nguồn gốc Hoa Kỳcho NS sữa tốt và nên theo dõi chọn lọc chúng để đưa vào đàn giống hạt nhân HF thuần của nước ta.

d. Sản lượng sữa các lứa của bò HF theo nguồn gia súc

SL sữa của nhóm bò nhập khẩu từ Hoa Kỳ cao nhất (4805,61 kg/con/lứa), sau đó đến nhóm bò nhập khẩu từ Úc ((4446,44 kg/con/lứa) và thấp nhất là nhóm sinh ra tại Việt Nam (4289,27 kg/con/lứa). Sự sai khác về NS sữa giữa 3 nhóm này có ý nghĩa thống kê rõ rệt (P < 0,05). Từ kết quả nghiên cứu này cho thấy để nâng cao NS sữa của bò HF trong nước và phát triển đàn nhanh, biện pháp nhập giống từ Hoa Kỳ và châu Úc cũng là một trong những giải pháp tích cực phù hợp với nhu cầu phát triển chăn nuôi trong nước, đẩy mạnh sản xuất sữa tươi đáp ứng kịp thời cho xã hội. Mặt khác, nhập khẩu bò HF giống từ Hoa Kỳ có khả năng đảm bảo chất lượng cao hơn.

e. Sản lượng sữa các lứa của bò HF theo mùa vụ đẻ

Kết quả ở Bảng 2 cho biết SL sữa trung bình từ lứa 1 đến lứa 8 cho thấy nhóm bò cái HF đẻ bê vào mùa vụ Đông - Xuân đạt 4575,20 kg/con/lứa, cao hơn có ý nghĩa thống kê rõ rệt (P < 0,05) so với SL sữa của nhóm đẻ bê vào mùa vụ Hè - Thu. Kết quả này cho biết mặc dầu vào mùa Hè - Thu nguồn gốc thức ăn thô xanh phong phú hơn mùa vụ Đông - Xuân nhưng NS sữa lại thấp, điều đó cho thấy đối với chăn nuôi bò sữa giống HF ở miền Bắc Việt Nam, việc xác định và cải thiện môi trường khí hậu trong chăn nuôi bò sữa cao sản là vấn đề đặc biệt quan trọng.

g. Sản lượng sữa các lứa của bò HF theo giai đoạn đẻ

Kết quả thể hiện ở Bảng 2 cho biết SL sữa trung bình từ lứa 1 đến lứa 8 qua các giai đoạn đẻ bê cho thấy các bò cái đẻ bê vào giai đoạn 1 đạt 4090,64 kg/con/lứa, tăng lên có ý nghĩa thống kê (P < 0,05) ở giai đoạn 2 (4662,42 kg/con/lứa) và tiếp tục tăng lên có ý nghĩa rõ rệt ở giai đoạn 3 (4788,26 kg/con/lứa). Kết quả này cho biết qua các giai đoạn khác nhau, cùng sự thay đổi phù hợp của các cơ chế chính sách, phát triển của công nghệ chế biến sử dụng thức ăn, kỹ thuật chăm sóc, chọn lọc cải tạo giống, đã tác động trực tiếp và thúc đẩy sự gia tăng đáng kể về NS sữa của đàn bò.

h. Sản lượng sữa các lứa của bò HF theo lứa

Bò HF nuôi ở miền Bắc Việt Nam trong nghiên cứu này có SL sữa lứa đẻ 1 là 4207,97 kg/con, tăng lên có ý nghĩa thống kê rõ rệt ở lứa đẻ 2, đạt 4505,76 kg/con (P < 0,05) và tiếp tục tăng lên ở lứa đẻ 3, đạt 4663,90 kg/con (P < 0,05). Từ lứa sữa thứ 3, SL sữa tăng lên, song không có ý nghĩa rõ rệt (P < 0,05) và đạt giá trị cao nhất ở lứa đẻ thứ 4 (4679,55 kg/con). Từ lứa đẻ thứ 4, SL sữa có xu hướng giảm xuống, lứa đẻ thứ 5 đạt 4651,46 kg/con và lứa đẻ thú 6 đạt 4607,78 kg/con. Sự sai khác về SL sữa giữa các lứa đẻ 3, 4, 5 và 6 không có ý nghĩa thống kê rõ rệt (P > 0,05). SL sữa lứa 7 đạt 4455,60 kg/con, giảm xuống có ý nghĩa rõ rệt (P < 0,05) so với lứa 6. Lứa 8 có SL sữa 4338,16 kg/con, tuy giảm xuống so với SL sữa lứa 7, song không có ý nghĩa (P > 0,05). Tuy nhiên, SL sữa lứa đẻ 8 vẫn cao hơn SL sữa lứa đẻ 1, mặc dù, sự chênh lệch này không có ý nghĩa (P > 0,05). SL sữa trung bình các lứa đẻ từ 1 đến 8 đạt 4737,31 kg/con/lứa,

SL sữa trung bình các lứa trong nghiên cứu này là 4737,31 kg/con/lứa, cao hơn các giá trị 3766 kg/con/lứa của Nguyễn Văn Thưởng và cs. (1985) trên đàn bò HF nuôi tại Mộc Châu; 3748 kg/con/lứa của Nguyễn Hữu Lương và cs. (2006) trên đàn HF nhập từ Australia. Song, kết quả ở nghiên cứu này thấp hơn giá trị 5788 kg/con/lứa của Nguyễn Đăng Vang và cs. (2006) trên đàn HF nhập từ Mỹ. SL sữa của đàn bò HF nuôi tại miền Bắc Việt Nam trong nghiên cứu này cao hơn so với sản lượng sữa của đàn bò HF nuôi ở Kenya 4557 kg/con/lứa (Ojango và Pollott, 2001), nhưng thấp hơn so với giá trị 8500 kg ở Bắc Kinh - Trung Quốc (Chen và cs. 2006); 8500 = 12000 kg/con/lứa ở Canada (Canwest, 2006).

4. Kết luận

Các yếu tố môi trường cố định khu vực chăn nuôi, nguồn bố, nguồn mẹ, nguồn gia súc, lứa sữa, mùa vụ và giai đoạn đẻ gây ảnh hưởng rõ rệt (P < 0,001) đến sản lượng sữa của bò HF nuôi ở miền Bắc Việt Nam.

Sản lượng sữa trung bình chu kỳ 305 ngày của bò cái HF nuôi ở miền Bắc Việt Nam đạt mức trung bình (4737,31 kg/chu kỳ) so với khu vực, nhưng thấp hơn so với một số nước có ngành chăn nuôi bò sữa phát triển. Năng suất sữa cao nhất ở lứa 3, 4 và 5. Bò sữa nuôi ở Mộc Châu đạt năng suất cao nhất.

Nguồn đực giống châu Âu và châu Mỹ có chất lượng tốt, bò cái nhập từ Hoa Kỳ và châu Úc cho năng suất sữa cao.

Tài liệu tham khảo

1. Canwest DHI (2006). Ontario progress report. oo: 10, 56 - 82

2. Chen H. Y, Zhang Q., Yin C.C, Wang C. K, Gong W.J., and Mei G (2006). “Detection of Quantitative Trait Loci Affecting Milk Production Traits on Bovine Chromosome 6 in a Chinesse Holstein Population by the Daughter Desing”, Journal of Dairy Science, 89 (2): pp, 782 - 790.

3. Nguyễn Hữu Lương, Đỗ Kim Tuyên, Hoàng Kim Giao, Nguyễn Viết Hải, Vũ Văn Nội, Lã Văn Thảo, Trần Sơn Hà, Vũ Ngọc Hiệu, Nguyễn Sức Mạnh, Nguyễn HÙng Sơn, Nguyễn Thị Dương Huyền (2006). “Nghiên cứu một số chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật của bò sữa Úc nhập nội Việt Nam(2002 - 2004)”, Báo cáo khoa học năm 2005, Phần nghiên cứu giống vật nuôi, Viện Chăn nuôi Việt Nam , tháng 8 - 2006, tr 37 - 49.

4. Ojango J.M and Pollottt G.E (2001). “Genetics of milk yield and fertility traits in Holstein- Friensian cattle on large - scale Kenyan farms” Journal Dari Science, Vol. 79: pp. 1742 - 1750.

5. SAS (1999).

6. Nguyễn Văn Thưởng, Lương Văn Lãng và Võ Văn Sự (1985), “Khả năng sinh sản, sinh trưởng và sản xuất sữa của giống bò Holstein Friz nuôi thích nghi tại nông trường Sao Đỏ Mộc Châu”, Tuyển tập công trình nghiên cứu chăn nuôi (1969 - 1984) Viện Chăn nuôi, Nhà xuất bản Nông nghiệp, tr 68 - 78.

7. Nguyễn Đăng Vang, Nguyễn Hữu Lương, Đỗ Kim Tuyên, Hoàng Kim Giao, Nguyễn Viết Hải, Vũ Văn Nội, Lã Văn Thảo, Trần Sơn Hà, Vũ Ngọc Hiệu, Nguyễn Sức Mạnh, Nguyễn Hùng Sơn và Nguyễn Thị Dương Huyền (2006). “Nghiên cứu một số chỉ tiêu kỹ thuật của bò sữa Mỹ nhập nội Việt Nam ”. Báo cáo khoa học năm 2005. Phần nghiên cứu giống vật nuôi, Viện Chăn nuôi, Hà Nội, 8 - 2006, tr 28 - 37.

Nguồn: T/c Chăn nuôi, 4 - 2008, tr 16

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Liên hiệp Hội Việt Nam chủ trì tổ chức họp các đoàn dự Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI
Căn cứ Thông tri số 10/TT-MTTQ-UB của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam về việc triệu tập đại biểu dự Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI, với vai trò là Trưởng các Đoàn của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức Liên hiệp, Liên hiệp Hội Việt Nam đã chủ trì tổ chức họp các đoàn để triển khai thực hiện thông tri của MTTQ Việt Nam.
Thủ tướng Lê Minh Hưng lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Philippines
Nhận lời mời của Tổng thống nước Cộng hòa Philippines Ferdinand Romualdez Marcos Jr, Chủ tịch ASEAN năm 2026, ngày 7/5, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Minh Hưng dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Cebu, Philippines từ ngày 7 đến 8/5/2026.
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.