Ảnh hưởng của một số yếu tố môi trường đến sản lượng sữa chu kỳ của bò holstein friesian nuôi ở miền Bắc Việt Nam
1. Mở đầu
Ngành chăn nuôi bò sữa hiện nay đang có xu hướng phát triển ở miền Bắc Việt Nam .
Trong chăn nuôi bò sữa, có nhiều yếu tố tác động đến năng suất (NS) sữa, song quyết định nhất là bản chất di truyền, chế độ dinh dưỡng và chăm sóc quản lý. NS sữa là tình trạng số lượng do phối hợp kiểu gen bên trong cơ thể và tác động của các yếu tố môi trường (MT). Muốn nâng cao NS sữa, cần cải tạo yếu tố di truyền (bằng chọn lọc và nhân giống các cá thể có kiểu gen tốt) và đồng thời cải tạo các yếu tố MT để tác động thích hợp lên kiểu gen đó. Do vậy, bên cạnh chọn lọc, xác định các cá thể có tổ hợp gen cho NS sữa tốt, vấn đề đánh giá đúng mức vai trò, xu thế tác động của các yếu tố MT để có thể khắc phục các ảnh hưởng trên để đàn bò sữa có NS sữa cao là điều cần nghiên cứu.
Để tạo thuận lợi cho việc định hướng phát triển giống bò Holstein Friesian (HF) ở miền Bắc làm tiền đề cải tạo giống, làm nền tảng cho việc đánh giá mức độ cải tiến tiềm năng di truyền về NS sữa, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi bò sữa, chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố MT đến sản lượng sữa chu kỳ 305 ngày của đàn bò HF nuôi ở miền Bắc Việt Nam” nhằm xác định trung bình sản lượng (SL) sữa 305 ngày của 8 lứa sữa đầu ở đàn bò HF, xác định mức độ ảnh hưởng của một số yếu tố MT đến SL sữa giúp công tác xác định các tham số di truyền, giá trị giống và xây dựng kế hoạch chăn nuôi bò HF thích hợp ở miền Bắc nước ta.
2. Phương pháp
2.1 Vật liệu
Bò HF nuôi ở miền Bắc Việt Nam , đẻ bê từ 1990 đến 2007.
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Xác định SL sữa chu kỳ 305 ngày (không hiệu chỉnh) từ lứa 1 đến lứa đẻ 8.
- Xác định các yếu tố tuổi đẻ các lứa, khu vực chăn nuôi,nguồn bố, nguồn mẹ, nguồn gia súc, mùa đẻ.
2.3 Địa điểm nghiên cứu
- Công ty cổ phần giống bò sữa Mộc Châu, Mộc Châu - Sơn La.
- Trung tâm phát triển bò Yên Sơn, Yên Sơn - Tuyên Quang.
- Trung tâm nghiên cứu bò và đồng cỏ Ba Vì, Ba Vì - Hà Tây.
- Công ty TNHH nhà nước một thành viên giống gia súc Hà Nội.
2.4 Phương pháp nghiên cứu
a, Thu thập số liệu
Thu thập số liệu về ngày sinh, ngày đẻ của bò từ lứa 1 đến lứa 8, khu vực chăn nuôi, SL sữa thực tế 305 ngày (nếu quá 305 ngày thì chỉ tính đến này 305; nếu chu kỳ sữa ngắn hơn 180 ngày thì không dùng).
b, Xử lý số liệu
Kiểm tra mức độ phân bố chuẩn trước khi tính toán tham số thống kê. Phân tích mức độ ảnh hưởng của các nhân tố sử dụng Proc GLM trong chương trình SAS (1999) với mô hình toán học như sau:
Y ijklmnop= TD + KV i+ NM kc+ NGS i+ L m+ M n+ GĐ o+ e ijklmnop
Trong đó:
Y: SL sữa của bò từ lứa 1 đến lứa 8.
TD: tuổi đẻ của các lứa sữa (ảnh hưởng theo dạng Covariate, hồi quy tuyến tính bậc 1).
KV: Ảnh hưởng cố định của nguồn bố thứ i, i = 3 (Hà Nội - Hà Tây, Mộc Châu, Tuyên Quang)
NB: Ảnh hưởng cố định của nguồn bố thứ j, j = 5 (Châu Á, Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Úc, Việt Nam ).
NM: Ảnh hưởng cố định của nguồn mẹ thứ k, k = 3 (Châu Mỹ, Châu Úc, Việt Nam ).
NGS: Ảnh hưởng của nguồn gia súc thứ l, l = 3 (Châu Mỹ, Châu Úc, Việt Nam ).
M: Ảnh hưởng cố định của mùa đẻ thứ m, m = 2 (Đông - Xuân: tháng 1 - 3 và 10 - 12; Hè - Thu: tháng 4 - 9).
GĐ: Ảnh hưởng cố định của giai đoạn đẻ thứ o, o = 3 (GĐ 1: 1992 - 1997, GĐ 2: 1998 - 2001, GĐ 3: 2002 - 2007).
E: Sai số ngẫu nhiên với giả thiết N (0, s2e).
3. Kết quả
3.1 Mức độ ảnh hưởng của một số yếu tố đến sản lượng sữa bò của Holstein Friesian nuôi tại miền Bắc Việt Nam
![]() |
| Bảng 1. Phân tích phương sai về mức độ ảnh hưởng của một số yếu tố đến các tính trạng sản lượng sữa. |
3.2 Sản lượng sữa các lứa đẻ của bò Holstien Friensian nuôi tại miền Bắc Việt Nam theo các yếu tố nghiên cứu
a. Sản lượng sữa các lứa tuổi của bò Holstien Friesian theo các khu vực
Bò nuôi ở Mộc Châu có NS cao nhất, đạt 4967, 26 kg/con/lứa, cao hơn có ý nghĩa so với bò nuôi ở Tuyên Quang (4588,00 kg/con/lứa) và ở Hà Nội - Hà Tây (P > 0,05). Rõ ràng, Mộc Châu là cơ sở đã nhiều năm có kinh nghiệm nuôi bò sữa, đội ngũ cán bộ quản lý và người chăn nuôi có kiến thức tốt, quy chế của công ty phù hợp đã khuyến khích người chăn nuôi quan tâm đến đàn bò. Mặc khác, MT sinh thái và điều kiện tự nhiên của Mộc Châu rất phù hợp cho chăn nuôi bò sữa HF thuần.
b. Sản lượng sữa các lứa của bò HF theo nguồn bố
Nhóm con cái có nguồn bố châu Âu cho NS cao nhất(4729,31 kg/con/lứa), sau đó là châu Mỹ (4542,09 kg/con/lứa), châu Á (4504,94 kg/con/lứa, châu Úc (4442,39 kg/con.lứa) và thấp nhất là nhóm Việt Nam (4350,13 kg/con/lứa). NS sữa nhóm con gái có nguồn bố châu Âu cao hơn có ý nghĩa so với tất cả các nhóm khác (P < 0,05). Từ kết quả nghiên cứu này cho thấy đực giống ngoại nhập tốt hơn nguồn đực giống trong nước. Khi nhập đực giống HF, nên ưu tiên hai nguồn chính là châu Âu và châu Mỹ.
c. Sản lượng sữa các lứa của bò HF theo nguồn mẹ
![]() |
| Bảng 2. Sản lượng sữa chu kỳ các lứa sữa từ 1 đến 8 của bò Holstein Friesian nuôi ở miền Bắc Việt Nam. |
d. Sản lượng sữa các lứa của bò HF theo nguồn gia súc
SL sữa của nhóm bò nhập khẩu từ Hoa Kỳ cao nhất (4805,61 kg/con/lứa), sau đó đến nhóm bò nhập khẩu từ Úc ((4446,44 kg/con/lứa) và thấp nhất là nhóm sinh ra tại Việt Nam (4289,27 kg/con/lứa). Sự sai khác về NS sữa giữa 3 nhóm này có ý nghĩa thống kê rõ rệt (P < 0,05). Từ kết quả nghiên cứu này cho thấy để nâng cao NS sữa của bò HF trong nước và phát triển đàn nhanh, biện pháp nhập giống từ Hoa Kỳ và châu Úc cũng là một trong những giải pháp tích cực phù hợp với nhu cầu phát triển chăn nuôi trong nước, đẩy mạnh sản xuất sữa tươi đáp ứng kịp thời cho xã hội. Mặt khác, nhập khẩu bò HF giống từ Hoa Kỳ có khả năng đảm bảo chất lượng cao hơn.
e. Sản lượng sữa các lứa của bò HF theo mùa vụ đẻ
Kết quả ở Bảng 2 cho biết SL sữa trung bình từ lứa 1 đến lứa 8 cho thấy nhóm bò cái HF đẻ bê vào mùa vụ Đông - Xuân đạt 4575,20 kg/con/lứa, cao hơn có ý nghĩa thống kê rõ rệt (P < 0,05) so với SL sữa của nhóm đẻ bê vào mùa vụ Hè - Thu. Kết quả này cho biết mặc dầu vào mùa Hè - Thu nguồn gốc thức ăn thô xanh phong phú hơn mùa vụ Đông - Xuân nhưng NS sữa lại thấp, điều đó cho thấy đối với chăn nuôi bò sữa giống HF ở miền Bắc Việt Nam, việc xác định và cải thiện môi trường khí hậu trong chăn nuôi bò sữa cao sản là vấn đề đặc biệt quan trọng.
g. Sản lượng sữa các lứa của bò HF theo giai đoạn đẻ
Kết quả thể hiện ở Bảng 2 cho biết SL sữa trung bình từ lứa 1 đến lứa 8 qua các giai đoạn đẻ bê cho thấy các bò cái đẻ bê vào giai đoạn 1 đạt 4090,64 kg/con/lứa, tăng lên có ý nghĩa thống kê (P < 0,05) ở giai đoạn 2 (4662,42 kg/con/lứa) và tiếp tục tăng lên có ý nghĩa rõ rệt ở giai đoạn 3 (4788,26 kg/con/lứa). Kết quả này cho biết qua các giai đoạn khác nhau, cùng sự thay đổi phù hợp của các cơ chế chính sách, phát triển của công nghệ chế biến sử dụng thức ăn, kỹ thuật chăm sóc, chọn lọc cải tạo giống, đã tác động trực tiếp và thúc đẩy sự gia tăng đáng kể về NS sữa của đàn bò.
h. Sản lượng sữa các lứa của bò HF theo lứa
Bò HF nuôi ở miền Bắc Việt Nam trong nghiên cứu này có SL sữa lứa đẻ 1 là 4207,97 kg/con, tăng lên có ý nghĩa thống kê rõ rệt ở lứa đẻ 2, đạt 4505,76 kg/con (P < 0,05) và tiếp tục tăng lên ở lứa đẻ 3, đạt 4663,90 kg/con (P < 0,05). Từ lứa sữa thứ 3, SL sữa tăng lên, song không có ý nghĩa rõ rệt (P < 0,05) và đạt giá trị cao nhất ở lứa đẻ thứ 4 (4679,55 kg/con). Từ lứa đẻ thứ 4, SL sữa có xu hướng giảm xuống, lứa đẻ thứ 5 đạt 4651,46 kg/con và lứa đẻ thú 6 đạt 4607,78 kg/con. Sự sai khác về SL sữa giữa các lứa đẻ 3, 4, 5 và 6 không có ý nghĩa thống kê rõ rệt (P > 0,05). SL sữa lứa 7 đạt 4455,60 kg/con, giảm xuống có ý nghĩa rõ rệt (P < 0,05) so với lứa 6. Lứa 8 có SL sữa 4338,16 kg/con, tuy giảm xuống so với SL sữa lứa 7, song không có ý nghĩa (P > 0,05). Tuy nhiên, SL sữa lứa đẻ 8 vẫn cao hơn SL sữa lứa đẻ 1, mặc dù, sự chênh lệch này không có ý nghĩa (P > 0,05). SL sữa trung bình các lứa đẻ từ 1 đến 8 đạt 4737,31 kg/con/lứa,
SL sữa trung bình các lứa trong nghiên cứu này là 4737,31 kg/con/lứa, cao hơn các giá trị 3766 kg/con/lứa của Nguyễn Văn Thưởng và cs. (1985) trên đàn bò HF nuôi tại Mộc Châu; 3748 kg/con/lứa của Nguyễn Hữu Lương và cs. (2006) trên đàn HF nhập từ Australia. Song, kết quả ở nghiên cứu này thấp hơn giá trị 5788 kg/con/lứa của Nguyễn Đăng Vang và cs. (2006) trên đàn HF nhập từ Mỹ. SL sữa của đàn bò HF nuôi tại miền Bắc Việt Nam trong nghiên cứu này cao hơn so với sản lượng sữa của đàn bò HF nuôi ở Kenya 4557 kg/con/lứa (Ojango và Pollott, 2001), nhưng thấp hơn so với giá trị 8500 kg ở Bắc Kinh - Trung Quốc (Chen và cs. 2006); 8500 = 12000 kg/con/lứa ở Canada (Canwest, 2006).
4. Kết luận
Các yếu tố môi trường cố định khu vực chăn nuôi, nguồn bố, nguồn mẹ, nguồn gia súc, lứa sữa, mùa vụ và giai đoạn đẻ gây ảnh hưởng rõ rệt (P < 0,001) đến sản lượng sữa của bò HF nuôi ở miền Bắc Việt Nam.
Sản lượng sữa trung bình chu kỳ 305 ngày của bò cái HF nuôi ở miền Bắc Việt Nam đạt mức trung bình (4737,31 kg/chu kỳ) so với khu vực, nhưng thấp hơn so với một số nước có ngành chăn nuôi bò sữa phát triển. Năng suất sữa cao nhất ở lứa 3, 4 và 5. Bò sữa nuôi ở Mộc Châu đạt năng suất cao nhất.
Nguồn đực giống châu Âu và châu Mỹ có chất lượng tốt, bò cái nhập từ Hoa Kỳ và châu Úc cho năng suất sữa cao.
Tài liệu tham khảo
1. Canwest DHI (2006). Ontario progress report. oo: 10, 56 - 82
2. Chen H. Y, Zhang Q., Yin C.C, Wang C. K, Gong W.J., and Mei G (2006). “Detection of Quantitative Trait Loci Affecting Milk Production Traits on Bovine Chromosome 6 in a Chinesse Holstein Population by the Daughter Desing”, Journal of Dairy Science, 89 (2): pp, 782 - 790.
3. Nguyễn Hữu Lương, Đỗ Kim Tuyên, Hoàng Kim Giao, Nguyễn Viết Hải, Vũ Văn Nội, Lã Văn Thảo, Trần Sơn Hà, Vũ Ngọc Hiệu, Nguyễn Sức Mạnh, Nguyễn HÙng Sơn, Nguyễn Thị Dương Huyền (2006). “Nghiên cứu một số chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật của bò sữa Úc nhập nội Việt Nam(2002 - 2004)”, Báo cáo khoa học năm 2005, Phần nghiên cứu giống vật nuôi, Viện Chăn nuôi Việt Nam , tháng 8 - 2006, tr 37 - 49.
4. Ojango J.M and Pollottt G.E (2001). “Genetics of milk yield and fertility traits in Holstein- Friensian cattle on large - scale Kenyan farms” Journal Dari Science, Vol. 79: pp. 1742 - 1750.
5. SAS (1999).
6. Nguyễn Văn Thưởng, Lương Văn Lãng và Võ Văn Sự (1985), “Khả năng sinh sản, sinh trưởng và sản xuất sữa của giống bò Holstein Friz nuôi thích nghi tại nông trường Sao Đỏ Mộc Châu”, Tuyển tập công trình nghiên cứu chăn nuôi (1969 - 1984) Viện Chăn nuôi, Nhà xuất bản Nông nghiệp, tr 68 - 78.
7. Nguyễn Đăng Vang, Nguyễn Hữu Lương, Đỗ Kim Tuyên, Hoàng Kim Giao, Nguyễn Viết Hải, Vũ Văn Nội, Lã Văn Thảo, Trần Sơn Hà, Vũ Ngọc Hiệu, Nguyễn Sức Mạnh, Nguyễn Hùng Sơn và Nguyễn Thị Dương Huyền (2006). “Nghiên cứu một số chỉ tiêu kỹ thuật của bò sữa Mỹ nhập nội Việt Nam ”. Báo cáo khoa học năm 2005. Phần nghiên cứu giống vật nuôi, Viện Chăn nuôi, Hà Nội, 8 - 2006, tr 28 - 37.
Nguồn: T/c Chăn nuôi, 4 - 2008, tr 16










